Tài nguyên thông tin thư viện

Kiến thức lịch sử

LỊCH LÀM VIỆC

Thông báo: Lịch hoạt động thư viện năm học 2025 - 2026 Thời gian 7h30 - 11h; 13h30-16h45 Từ Thứ 2 - Thứ 6

Ảnh ngẫu nhiên

Gemini_Generated_Image_ny0gvwny0gvwny0g.png Gemini_Generated_Image_jyw1evjyw1evjyw1.png Gemini_Generated_Image_jdf2wqjdf2wqjdf2.png 21.png 20.png

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • 💕💕 “Mỗi giá sách là một thế giới, mỗi thư viện là cả vũ trụ” 💕💕

    Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - bước ngoặt lịch sử vĩ đại

    Thế giới phẳng

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Internet
    Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
    Ngày gửi: 22h:57' 18-11-2025
    Dung lượng: 2.5 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Thế giới Phẳng
    TÓM TẮT LỊCH SỬ
    THẾ KỈ HAI MƯƠI MỐT
    The World Is Flat
    A BRIEF HISTORY OF
    THE TWENTY-FIRST CENTURY

    Thomas L. Friedman

    THẾ GIỚI LÀ PHẲNG
    Những người dịch:
    Nguyễn Quang A, Cao Việt Dũng, Nguyễn Tiên Phong

    CÙNG TÁC GIẢ
    From Beirut to Jerusalem (1989)
    The Lexus and the Olive Tree (1999)
    [Chiếc Lexus và Cây Ôliu (NXB. Khoa học Xã Hội 2005)]
    Longtitudes and Attitudes (2002)

    THOMAS L. FRIEDMAN

    THẾ GIỚI LÀ PHẲNG
    Tóm tắt Lịch sử Thế kỉ Hai mươi Mốt

    Farrar, Straus and Gioux / New York

    Tặng Matt
    và Kay
    và Ron

    Mục Lục

    Lời giới thiệu
    Thế giới Trở thành Phẳng Thế nào
    Một: Khi Tôi Còn Đang Ngủ / 3
    Hai: Mười Lực Làm Phẳng Thế giới / 48
    Lực làm phẳng # 1. 9/11/89 / 48
    Lực làm phẳng # 2. 9/8/95 / 56
    Lực làm phẳng # 3. Phần mềm Work Flow / 71
    Lực làm phẳng # 4. Open-Sourcing / 81
    Lực làm phẳng # 5. Outsourcing / 103
    Lực làm phẳng # 6. Offshoring / 114
    Lực làm phẳng # 7. Xâu Chuỗi cung / 128
    Lực làm phẳng # 8. Insourcing / 141
    Lực làm phẳng # 9. In-forming / 150
    Lực làm phẳng # 10. Các Steroid / 159
    Ba: Ba sự Hội tụ / 173
    Bốn: Sự Sắp xếp Vĩ đại / 201
    Mĩ và Thế giới Phẳng
    Năm: Mĩ và Tự do Thương mại / 225
    Sáu: Những Tiện dân / 237
    Bảy: Cuộc Khủng hoảng Trầm lặng / 250
    Tám: Đây Không phải là một Thử nghiệm / 276

    Các Nước Đang Phát triển và Thế giới Phẳng
    Chín: Đức mẹ đồng trinh Guadalupe / 309
    Các Công ti và Thế giới Phẳng
    Mười: Các công ti đối phó thế nào

    / 339

    Địa Chính trị và Thế giới Phẳng
    Mười một: Thế giới Không phẳng / 371
    Mười hai: Lí thuyết Dell về Ngăn ngừa Xung đột
    Kết luận: Sức Tưởng tượng
    Mười ba: 9/11 đối lại 11/9 / 441
    Lời Cảm ơn
    / 471
    Chỉ mục / 475

    / 414

    LỜI GIỚI THIỆU
    Bạn đọc cầm trên tay cuốn thứ mười ba* của tủ sách SOS2,
    cuốn Thế giới Phẳng của Thomas L. Freedman. Cuốn sách được in
    và phát hành lần đầu vào tháng 4-2005. Đây là cuốn sách thứ tư của
    Freedman, cuốn thứ hai, Xe Lexus và Cây Ôliu, vừa được Nhà xuất
    bản Khoa Học Xã hội xuất bản bằng tiếng Việt. T. L. Freedman là
    nhà báo nổi tiếng của tờ New York Times, đi nhiều, gặp gỡ với rất
    nhiều nhân vật nổi tiếng, với con mắt hết sức sắc sảo, ông trình bày
    những vấn đề toàn cầu hoá rất súc tích và sinh động, ông trình bày
    những vấn đề khô khan, khó hiểu một cách sáng sủa, dí dỏm, dùng
    nhiều ẩn dụ giúp bạn đọc lĩnh hội vấn đề một cách dễ dàng.
    Tôi nghĩ cuốn sách rất bổ ích cho các nhà chính trị, các nhà
    hoạch định chính sách, vì nó trình bày những thách thức của thế
    giới phẳng đối với Mĩ, với thế giới đang phát triển, với các công ti,
    nên các loại độc giả này sẽ có thể thấy thông tin và ý tưởng của
    Freedman gây kích thích. Các học giả chắc sẽ học được cách trình
    bày đơn giản nhiều vấn đề phức tạp. Tôi nhiệt thành khuyên giới
    trẻ và các doanh nhân hãy đọc cuốn sách này, vì nó sẽ bổ ích cho
    họ để xác định lại mình trong học tập, khởi nghiệp, học và làm việc
    suốt đời. Tất nhiên cuốn sách cũng bổ ích cho tất cả những ai quan
    tâm đến tương lai, việc làm, công nghệ, khoa học, và sáng tạo.
    Người dịch đã cố hết sức để làm cho bản dịch được chính xác
    và dễ đọc, song do hiểu biết có hạn nên khó thể tránh khỏi sai sót.
    Phần chỉ mục nội dung, ở mỗi mục chính (và cả ở mục phụ nếu
    chúng tôi thấy thuật ngữ có thể là lạ), có kèm theo thuật ngữ tiếng
    *

    Các quyển trước gồm:
    1. J. Kornai: Con đường dẫn tới nền kinh tế thị trường, Hội Tin học Việt
    Nam 2001, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin (NXB VHTT) 2002.
    2. J. Kornai: Hệ thống Xã hội chủ nghĩa, NXB Văn hoá Thông tin 2002
    3. J. Kornai- K. Eggleston: Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, NXB VHTT
    2002
    4. G. Soros: Giả kim thuật tài chính, sắp xuất bản
    5. H. de Soto: Sự bí ẩn của tư bản, sắp xuất bản
    6. J. E. Stiglitz: Chủ nghĩa xã hội đi về đâu? sắp xuất bản
    7. F.A. Hayek: Con đường dẫn tới chế độ nông nô, sắp xuất bản
    8. G. Soros: Xã hội Mở, sắp xuất bản
    9. K. Popper: Sự Khốn cùng của Chủ nghĩa lịch sử, sắp xuất bản.
    10. K. Popper: Xã hội mở và những kẻ thù của nó, I, Plato
    11. K. Popper: Xã hội mở và những kẻ thù của nó, II, Hegel và Marx
    12. Thomas S. Kuhn: Cấu trúc của các cuộc Cách mạng Khoa học

    Anh để bạn đọc tiện tham khảo; tác giả dùng nhiều từ mới, một số
    từ được để nguyên bằng tiếng Anh, phần giải thích nghĩa có thể tìm
    thấy ở Chỉ mục.
    Những người dịch cuốn sách này gồm: Cao Việt Dũng (các
    Chương 9, 10, 11, 12) và Nguyễn Tiên Phong (Chương 13), phần
    còn lại tôi dịch và đảm đương việc hiệu đính chung. Tôi thành thật
    xin lỗi các cộng sự vì đã soát lại và sửa từng câu của các chương
    đó. Làm vậy có thể mất cái hay của bản dịch ban đầu, kể cả cách
    viết chính tả nhưng để cho bản dịch được nhất quán tôi đã sửa rất
    nhiều, phần hay là của họ, các lỗi và thiếu sót là của tôi. Tôi chịu
    trách nhiệm về mọi lỗi và sai sót của toàn bộ bản dịch.
    Mọi chú thích của tác giả được đánh bằng số. Tất cả các chú
    thích đánh dấu sao (*) ở cuối trang là của người dịch. Trong văn
    bản đôi khi người dịch có đưa thêm từ hay cụm từ để cho câu được
    rõ nghĩa, phần đó được đặt trong dấu [như thế này]. Bản dịch chắc
    còn nhiều thiếu sót mong bạn đọc thông cảm, lượng thứ, và chỉ
    bảo; xin liên hệ theo địa chỉ Tạp chí Tin học và Đời sống, 54
    Hoàng Ngọc Phách Hà Nội [25/B7 Nam Thành Công], hoặc qua
    điện thư thds@hn.vnn.vn hay nqa@netnam.vn
    09-2005
    Nguyễn Quang A

    Thế giới
    Trở thành Phẳng
    Thế nào

    MỘT

    Khi Tôi Còn Đang Ngủ

    Tâu các Hoảng tử, với tư cách những người Công giáo Cơ đốc, và các
    hoàng tử những người yêu mến và thúc đẩy niềm tin Công giáo linh
    thiêng, và là những kẻ thù của học thuyết Mohamet, và của mọi sự sùng
    bái thần tượng và dị giáo, đã quyết định cử tôi, Christopher Columbus,
    đi đến các miền nói trên của Ấn Độ, để xem các hoàng tử, nhân dân, và
    các vùng đất ấy, và để tìm hiểu tính khí của họ và phương pháp thích
    hợp nhằm cải biến họ theo niềm tin linh thiêng của chúng ta; và hơn
    nữa đã chỉ dẫn rằng tôi không được đi bằng đường bộ theo hướng
    Đông, như lệ thường, mà bằng đường phía Tây, theo hướng mà đến nay
    chúng ta không có bằng chứng chắc chắn nào rằng đã có bất cứ ai đi.
    - Từ nhật kí của Christopher Columbus về chuyến đi 1492 của ông

    C

    hẳng ai đã từng chỉ hướng cho tôi như thế này trên một sân
    golf trước đây: “Hãy nhắm vào hoặc Microsoft hay IBM”. Tôi
    đứng ở điểm phát bóng đầu tiên tại sân golf KGA Golf Club ở khu
    trung tâm thành phố Bangalore, miền nam Ấn Độ, khi bạn chơi của
    tôi trỏ vào hai cao ốc bằng kính-và thép bóng loáng nổi bật lên ở
    đằng xa, đúng sau thảm cỏ xanh đầu tiên. Cao ốc Goldman Sachs
    vẫn chưa xong; nếu không thì anh ta đã có thể trỏ vào cái đó nữa và
    biến nó thành bộ ba. HP và Texas Instrument có văn phòng của họ
    ở sau lỗ thứ chín, dọc theo lỗ thứ mười. Đó không phải là tất cả.
    Các mốc phát bóng là của Epson, công ti máy in, và một trong
    những người xách gậy của chúng tôi đội mũ 3M. Bên ngoài, một số
    biển hiệu giao thông cũng do Texas Instrument tài trợ, và bảng
    quảng cáo Pizza Hut trên đường trưng một miếng pizza bốc hơi,
    dưới đầu đề “Các miếng giga đầy Hương vị!”

    4

    THẾ GIỚI LÀ PHẲNG

    Không, đấy dứt khoát không phải Kansas. Thậm chí không có vẻ
    giống Ấn Độ. Đấy là Thế giới Mới, Thế giới Cũ, hay Thế giới tiếp?
    Tôi đã đến Bangalore, Silicon Valley của Ấn Độ, bằng hành trình
    khám phá của riêng tôi giống của Columbus. Columbus đã đi thuyền
    buồm với các tàu Niña, Pinta, và Santa María trong một nỗ lực để
    khám phá ra một đường ngắn hơn, trực tiếp hơn đến Ấn Độ bằng
    hướng về phía tây, qua Đại Tây Dương, mà ông cho là đường biển
    khơi đến Đông Ấn – hơn là đi xuống phía nam và đông vòng qua
    châu Phi, như những người khai phá Bồ Đào Nha thời ông đã thử
    đi. Ấn Độ và các Hòn đảo Gia Vị phương Đông nổi tiếng một thời
    về vàng, ngọc, đá quý, và tơ lụa của họ - một nguồn vật báu không
    kể xiết. Tìm đường tắt qua biển này đến Ấn Độ, ở thời khi các thế
    lực Hồi giáo ngày đó đã chặn các đường bộ từ châu Âu, đã là một
    cách cho cả Columbus và nền quân chủ Tây Ban Nha trở nên giàu
    có và hùng mạnh. Khi Columbus căng buồm, hiển nhiên ông đã
    cho rằng Trái đất tròn, đó là vì sao ông lại tin chắc rằng ông có thể
    đến Ấn Độ bằng cách đi về phương tây. Tuy nhiên, ông đã tính sai
    quãng đường. Ông nghĩ Trái Đất là một quả cầu nhỏ hơn. Ông
    cũng đã không dự kiến gặp một vùng đất rộng trước khi ông đến
    được Đông Ấn. Tuy nhiên, ông đã gọi các thổ dân mà ông đã gặp ở
    thế giới mới là các “Indian-dân da đỏ” [những người Ấn Độ]. Quay
    về nhà, tuy thế, Columbus đã có thể nói cho những người đỡ đầu
    ông, Vua Ferdinand và Hoàng hậu Isabella, rằng mặc dù ông không
    thấy Ấn Độ, ông có thể xác nhận rằng thế giới quả thực tròn.
    Tôi bắt đầu đi Ấn Độ theo đúng hướng đông, qua Frankfurt. Tôi
    dùng Lufthansa với vé hạng thương gia. Tôi biết chính xác hướng
    mình đi nhờ bản đồ GPS hiện trên màn hình thòi ra từ ngăn của ghế
    ngồi trên máy bay. Tôi hạ cánh an toàn và đúng giờ. Tôi cũng đã
    gặp những người được gọi là Indian. Tôi cũng đã đi tìm nguồn giàu
    có của Ấn Độ. Columbus đã tìm phần cứng – các kim loại quý, tơ
    lụa, và gia vị - nguồn giàu có trong thời ông. Tôi đã tìm phần mềm,
    năng lực trí óc, các thuật giải phức tạp, các công nhân tri thức, các
    call center [trung tâm phục vụ khách hàng qua điện thoại], các giao
    thức truyền, những đột phá về kĩ thuật quang học – các nguồn giàu
    có của thời chúng ta. Columbus đã vui sướng biến những người
    Indian ông gặp thành các nô lệ, một quỹ lao động chân tay tự do.
    Tôi chỉ muốn hiểu vì sao những người Indian tôi gặp lại lấy việc
    làm của chúng ta, vì sao họ trở thành một quỹ quan trọng như vậy

    KHI TÔI CÒN ĐANG NGỦ

    5

    cho outsourcing [thuê làm ngoài] dịch vụ và việc làm công nghệ
    thông tin (CNTT) từ Hoa Kì và các nước công nghiệp khác.
    Columbus có hơn một trăm người trên ba tàu của ông; tôi có một
    nhóm nhỏ từ kênh Discovery Times vừa thoải mái trong hai xe tải
    dã chiến, với các lái xe Ấn Độ đi chân trần. Khi căng buồm, ấy là
    nói vậy, tôi cũng đã cho rằng thế giới là tròn, song cái tôi bắt gặp ở
    Ấn Độ thật đã hết sức làm lung lay niềm tin của tôi vào ý niệm đó.
    Columbus tình cờ gặp châu Mĩ song ông nghĩ mình đã khám phá ra
    một phần Ấn Độ. Tôi thực sự thấy Ấn Độ và nghĩ nhiều người tôi
    gặp ở đó là những người Mĩ. Một số đã thực sự lấy tên Mĩ, và
    những người khác bắt chước rất cừ giọng nói Mĩ ở các call center
    và các kĩ thuật kinh doanh Mĩ ở các phòng thí nghiệm phần mềm.
    Columbus tâu lên vua và hoàng hậu của mình rằng thế giới tròn
    và ông đã đi vào lịch sử như người đầu tiên khám phá ra điều này.
    Tôi quay về nhà và chia sẻ sự phát hiện chỉ với vợ, và chỉ thì thầm.
    “Em yêu”, tôi thủ thỉ, “anh nghĩ thế giới là phẳng”.

    L

    àm sao tôi đã đi đến kết luận này? Tôi nghĩ bạn có thể nói tất
    cả bắt đầu trong phòng họp của Nadan Nilekani ở công ti
    Infosys Technologies Limited. Infosys là một trong các báu vật của
    thế giới CNTT Ấn Độ, và Nilekani, CEO [Tổng điều hành] của
    công ti, một trong những thuyền trưởng chín chắn và được kính
    trọng nhất của nền công nghiệp Ấn Độ. Tôi đi xe với nhóm
    Discovery Times đến khu Infosys, khoảng bốn mươi phút từ trung
    tâm Bangalore, để thăm cơ sở và phỏng vấn Nilekani. Đến khu
    Infosys bằng con đường sứt sẹo, với các chú bò linh thiêng, các xe
    ngựa kéo, và các xe kéo có động cơ tất cả cùng chen lấn sát cạnh xe
    chúng tôi. Tuy nhiên, một khi bước vào cổng Infosys bạn ở trong
    một thế giới khác. Một bể bơi lớn cỡ khu nghỉ mát nép mình gữa
    các tảng đá mòn và những dải cỏ được cắt tỉa, sát kề một bãi cỏ
    khổng lồ như một sân golf nhỏ. Có vô số quán ăn và một câu lạc bộ
    sức khoẻ tuyệt vời. Các cao ốc kính-và-thép dường như mọc lên
    giống cỏ dại mỗi tuần. Trong một số cao ốc đó, các nhân viên
    Infosys đang viết các chương trình phần mềm cụ thể cho các công
    ti Mĩ hay châu Âu; trong các cao ốc khác, họ thực hiện những công
    việc hậu trường của các công ti siêu quốc gia lớn đặt cơ sở ở Mĩ và
    châu Âu - mọi thứ từ bảo trì máy tính đến các đề án nghiên cứu cụ

    6

    THẾ GIỚI LÀ PHẲNG

    thể đến trả lời các cuộc gọi của khách hàng từ khắp nơi trên thế
    giới. An ninh là chặt, các camera theo dõi các cửa, và nếu anh làm
    việc cho American Express, anh không thể đi vào cao ốc quản lí
    các dịch vụ và nghiên cứu cho General Electric. Các kĩ sư Ấn Độ
    trẻ, nam và nữ, đi nhanh nhẹn từ cao ốc này sang cao ốc kia, lủng
    lẳng các thẻ ID [nhận dạng]. Một người có vẻ như có thể lo các
    khoản thuế của tôi. Người khác có vẻ như cô có thể tháo rời máy
    tính của tôi. Và người thứ ba có vẻ như cô ta đã thiết kế nó!
    Sau khi ngồi cho một cuộc phỏng vấn, Nilekani đã dẫn nhóm TV
    chúng tôi dạo quanh trung tâm hội nghị toàn cầu của Infosys- tầng
    zero của công nghiệp outsourcing Ấn Độ. Nó là một phòng sâu
    thẳm lát ván ô gỗ nhìn giống một phòng học được xếp thành dãy từ
    một trường luật Ivy League. Ở một đầu có một màn hình đồ sộ cỡ
    bức tường và ở trên cao có các camera trên trần cho hội nghị từ xa.
    “Đây là phòng hội nghị của chúng tôi, đây có lẽ là màn hình lớn
    nhất châu Á - gồm bốn mươi màn hình số [gộp lại],” Nilekani tự
    hào giải thích, chỉ lên màn hình TV lớn nhất tôi đã từng thấy.
    Infosys, ông nói, có thể tổ chức một cuộc hội nghị ảo của những
    người chơi chủ chốt của toàn bộ chuỗi cung ứng toàn cầu của nó
    cho bất cứ dự án nào vào bất cứ lúc nào trên màn hình siêu cỡ đó.
    Như thế các nhà thiết kế Mĩ của họ có thể nói chuyện trên màn
    hình với các nhà viết phần mềm Ấn Độ và các nhà sản xuất Á châu
    của họ cùng một lúc. “Chúng tôi có thể ngồi ở đây, ai đó từ New
    York, London, Boston, San Francisco, tất cả đều trực tiếp [live]. Và
    có thể việc thực hiện là ở Singapore, cho nên người ở Singapore
    cũng có thể trực tiếp ở đây… Đó là toàn cầu hoá,” Nilekani nói.
    Phía trên màn hình có tám chiếc đồng hồ tóm tắt rất khéo ngày làm
    việc của Infosys: 24/7/365 [24 giờ một ngày; 7 ngày một tuần; 365
    ngày một năm]. Các đồng hồ được gắn nhãn Tây Mĩ, Đông Mĩ,
    GMT, Ấn Độ, Singapore, Hong Kong, Nhật Bản, Úc.
    “Outsourcing chỉ là một chiều của một thứ cơ bản hơn nhiều
    đang xảy ra hiện nay trên thế giới,” Nilekani giải thích. “Cái xảy ra
    [vài] năm vừa qua là đã có một sự đầu tư ồ ạt vào công nghệ, đặc
    biệt trong thời đại bong bóng, khi hàng trăm triệu dollar được đầu
    tư để thiết lập kết nối khắp nơi trên thế giới, cáp biển, và tất cả các
    thứ đó”. Đồng thời, ông nói thêm, máy tính đã trở nên rẻ hơn và
    phân tán khắp thế giới, và đã có một sự bùng nổ về phần mềm – email, các phương tiện tìm kiếm như Google, và phần mềm sở hữu

    KHI TÔI CÒN ĐANG NGỦ

    7

    riêng, có thể chẻ bất cứ công việc nào và gửi một phần đến Boston,
    một phần đến Bangalore, và một phần đến Bắc Kinh, tạo dễ dàng
    cho bất cứ ai để phát triển từ xa. Khi tất cả các thứ này đột nhiên
    xảy ra cùng lúc vào khoảng năm 2000, Nilekani nói thêm, chúng
    “đã tạo ra một nền nơi việc làm tri thức, vốn trí tuệ, có thể được
    giao từ bất cứ đâu. Nó có thể được chia nhỏ, giao, phân phối, sản
    xuất và ráp lại cùng nhau lần nữa – và điều này đã cho cách làm
    việc của chúng ta một độ tự do hoàn toàn mới, đặc biệt việc làm có
    tính chất trí tuệ… Và cái mà anh đang nhìn thấy tại Bangalore ngày
    nay thực sự là đỉnh điểm của tất cả những điều trên kết hợp lại.”
    Chúng tôi ngồi trên đi văng bên ngoài văn phòng của Nilekani,
    đợi đội TV dựng các camera. Tại một điểm, tóm tắt các ẩn ý của tất
    cả điều này, Nilekani đã thốt ra một cụm từ cứ lảng vảng trong đầu
    tôi. Ông nói với tôi, “Tom, sân chơi đang được san phẳng”. Ý ông
    muốn nói là các nước như Ấn Độ bây giờ có khả năng cạnh tranh vì
    lao động tri thức toàn cầu như chưa từng bao giờ có - và rằng Mĩ
    tốt hơn hãy sẵn sàng cho điều này. Mĩ bị thách thức, nhưng, ông
    nhấn mạnh, sự thách thức sẽ là tốt cho Mĩ bởi vì chúng ta luôn sung
    sức nhất khi bị thách thức. Khi tôi rời khu Infosys về Bangalore tối
    hôm ấy và bị xóc suốt dọc đường ổ gà, tôi cứ ngẫm nghĩ mãi về
    cụm từ đó: “Sân chơi đang được san phẳng”.
    Cái Nandan nói, tôi nghĩ, là sân chơi đang được san phẳng…
    Được san phẳng? Được san phẳng? Trời ơi, ông ta nói với tôi thế
    giới là phẳng!”
    Tôi ở đây, ở Bangalore – hơn 500 năm sau khi Columbus vượt
    qua đường chân trời, dùng công nghệ hàng hải thô sơ của thời ông,
    và trở về an toàn để chứng minh dứt khoát rằng thế giới tròn – và
    một trong những kĩ sư tinh nhanh nhất Ấn Độ, được đào tạo tại học
    viện kĩ thuật hàng đầu của Ấn Độ và được hỗ trợ bởi công nghệ
    hiện đại nhất hiện nay, về cơ bản đã nói với tôi là thế giới này
    phẳng, phẳng như màn hình mà trên đó ông ta có thể chủ trì cuộc
    họp toàn bộ chuỗi cung ứng toàn cầu của mình. Thậm chí lí thú
    hơn, ông biểu dương sự phát triển này như một điều tốt, như cột
    mốc mới trong sự phát triển của loài người và một cơ hội lớn cho
    Ấn Độ và thế giới – một sự thực đã khiến thế giới chúng ta phẳng!
    Ngồi đằng sau chiếc xe đó, tôi đã viết vội vàng bốn từ đó vào sổ
    tay của mình: “Thế giới là phẳng”. Ngay khi viết chúng, tôi nhận ra
    rằng đấy là thông điệp cơ bản của mọi thứ tôi đã thấy và đã nghe ở

    8

    THẾ GIỚI LÀ PHẲNG

    Bangalore trong hai tuần làm phim. Sân chơi cạnh tranh toàn cầu
    được san bằng. Thế giới được san phẳng.
    Khi tôi nhận rõ điều này, cả hứng khởi và sự kinh hãi tràn đầy tôi.
    Nhà báo trong tôi hứng khởi khi đã tìm thấy một khung khổ để hiểu
    kĩ hơn các tin chính buổi sáng và để giải thích cái xảy ra trên thế
    giới ngày nay. Rõ ràng, hiện nay là có thể cho nhiều người hơn bao
    giờ hết để hợp tác và cạnh tranh trong thời gian thực với nhiều
    người hơn về nhiều loại việc làm khác nhau hơn từ nhiều ngõ
    ngách của hành tinh hơn và trên cơ sở bình đẳng hơn bất cứ thời
    gian nào trước đây trong lịch sử loài người – dùng máy tính, email, mạng, hội nghị từ xa, và phần mềm mới năng động. Đó là cái
    Nandan đã nói cho tôi. Đó là cái tôi đã khám phá ra trong hành
    trình của tôi đến Ấn Độ và xa hơn. Và đó là cái cuốn sách này nói
    về. Khi bạn bắt đầu nghĩ về thế giới như là phẳng, rất nhiều thứ có
    ý nghĩa theo những cách chúng không có trước đây. Nhưng đích
    thân tôi cũng hứng khởi, bởi vì sự san phẳng thế giới có nghĩa là
    bây giờ chúng ta đang kết nối tất cả các trung tâm tri thức trên hành
    tinh lại thành một mạng toàn cầu đơn nhất, mà - nếu hoạt động
    chính trị và chủ nghĩa khủng bố không cản đường – thì sẽ có thể
    mở ra một kỉ nguyên thịnh vượng và đổi mới gây sửng sốt.
    Nhưng suy ngẫm thế giới phẳng cũng làm tôi tràn đầy kinh hãi,
    về mặt nghề nghiệp và cá nhân. Sự kinh sợ riêng của tôi xuất phát
    từ sự thực hiển nhiên rằng không chỉ những người viết phần mềm
    và các geek [các tay cự phách về] máy tính được trao quyền để
    cộng tác trong công việc ở một thế giới phẳng. Nó cũng là al-Qaeda
    và các mạng lưới khủng bố khác. Sân chơi không được san bằng
    chỉ theo cách thu hút và siêu trao quyền một nhóm hoàn toàn mới
    của những người đổi mới sáng tạo. Nó được san bằng theo cách lôi
    kéo và siêu trao quyền một nhóm hoàn toàn mới của những người
    đàn ông và đàn bà giận dữ, nản chí, và bị làm nhục.
    Về nghề nghiệp, sự nhận ra thế giới là phẳng làm căng thẳng thần
    kinh vì tôi nhận ra rằng sự san bằng này đã xảy ra khi tôi còn đang
    ngủ, và tôi đã bỏ quên nó. Tôi thực sự không ngủ, mà đã bận việc
    khác. Trước 11 tháng 9 (11/9), tôi đã tập trung theo dõi toàn cầu
    hoá và khai thác sự căng thẳng giữa các lực “Lexus” của sự hội
    nhập kinh tế và các lực “Cây Ô liu” của bản sắc và chủ nghĩa dân
    tộc – do đó cuốn Xe Lexus và Cây Ô liu của tôi ra đời 1999. Song
    sau 11/9, các cuộc chiến tranh cây ô liu đã ám ảnh tôi hoàn toàn.

    KHI TÔI CÒN ĐANG NGỦ

    9

    Tôi dành hầu hết thời gian của mình chu du trong các thế giới Ả
    Rập và Hồi giáo. Vào các năm đó tôi đã mất dấu vết toàn cầu hoá.
    Tôi đã lại tìm thấy vết đó trên hành trình của tôi đến Bangalore
    tháng 2 năm 2004. Một khi đã tìm thấy, tôi nhận ra rằng có cái gì
    đó thật sự quan trọng đã xảy ra trong khi tôi gắn bó với các lùm cây
    ô liu của Kabul và Baghdad. Toàn cầu hoá đã đi đến một mức mới
    hoàn toàn. Nếu bạn đặt cuốn Xe Lexus và Cây Ô liu và cuốn sách
    này lại với nhau, bạn sẽ đi đến kết luận lí lẽ lịch sử khái quát là đã
    có ba kỉ nguyên lớn của toàn cầu hoá. Thời đại đầu kéo dài từ
    1492- khi Columbus dương buồm, mở ra sự giao thương giữa Thế
    giới Cũ và Thế giới Mới – cho đến khoảng 1800. Tôi sẽ gọi thời
    đại này là Toàn cầu hoá 1.0. Nó đã làm thế giới co lại từ một kích
    thước lớn thành cỡ trung bình. Toàn cầu hoá 1.0 là về các nước và
    sức mạnh cơ bắp. Tức là, trong Toàn cầu hoá 1.0 tác nhân then chốt
    của sự thay đổi, động lực thúc đẩy quá trình hội nhập toàn cầu đã là
    nước bạn có bao nhiêu cơ bắp – bao nhiêu sức cơ bắp, bao nghiêu
    sức ngựa, sức gió, hay, muộn hơn, sức hơi nước – và bạn đã có thể
    triển khai nó sáng tạo đến thế nào. Trong kỉ nguyên này, các nước
    và các chính phủ (thường được tôn giáo hay chủ nghĩa đế quốc hay
    sự kết hợp của cả hai xúi giục) đã dẫn đường phá bỏ các bức tường
    và nối chặt thế giới lại với nhau, thúc đẩy sự hội nhập toàn cầu.
    Trong Toàn cầu hoá 1.0, các câu hỏi chủ yếu là: Nước tôi hợp với
    sự cạnh tranh và các cơ hội toàn cầu ở chỗ nào? Làm sao tôi có thể
    đi toàn cầu và cộng tác với những người khác thông qua nước tôi?
    Kỉ nguyên lớn thứ hai, Toàn cầu hoá 2.0, kéo dài từ 1800 đến
    2000, bị gián đoạn bởi Đại Khủng hoảng và Chiến tranh Thế giới I
    và II. Thời đại này làm thế giới co từ cỡ trung bình xuống cỡ nhỏ.
    Trong Toàn cầu hoá 2.0, nhân tố then chốt của thay đổi, động lực
    thúc đẩy hội nhập toàn cầu, đã là các công ti đa quốc gia. Các công
    ti đa quốc gia này tiến hành toàn cầu hoá vì thị trường và lao động,
    đầu tiên do sự bành trướng của các công ti cổ phần Hà Lan và Anh
    và Cách mạng Công nghiệp làm mũi nhọn. Trong nửa đầu của thời
    đại này, hội nhập toàn cầu được cấp lực bởi sự sụt giảm chi phí
    chuyên chở, nhờ động cơ hơi nước và đường sắt, và trong nửa sau
    bởi sự sụt giảm các chi phí liên lạc - nhờ sự phổ biến của điện tín,
    điện thoại, PC, vệ tinh, cáp quang, và phiên bản ban đầu của World
    Wide Web (WWW). Chính trong thời đại này mà chúng ta thực sự
    thấy sự ra đời và trưởng thành của một nền kinh tế toàn cầu, theo

    10

    THẾ GIỚI LÀ PHẲNG

    nghĩa rằng đã có sự dịch chuyển đủ của hàng hoá và thông tin từ
    lục địa này sang lục địa khác để ở đó có một thị trường toàn cầu,
    với sự chênh lệch giá về các sản phẩm và lao động. Các động lực ở
    đằng sau kỉ nguyên toàn cầu hoá này là các đột phá về phần cứng từ tàu hơi nước và đường sắt lúc ban đầu đến điện thoại và các máy
    tính lớn vào lúc cuối. Và câu hỏi lớn trong thời đại này đã là: Công
    ti tôi hợp với nền kinh tế toàn cầu ở chỗ nào? Nó tận dụng các cơ
    hội thế nào? Làm sao tôi có thể đi toàn cầu và cộng tác với những
    người khác qua công ti của tôi? Cuốn Xe Lexus và Cây Ô liu chủ
    yếu là về đỉnh điểm của kỉ nguyên này, một thời đại khi các bức
    tường bắt đầu sụp đổ trên khắp thế giới, và sự hội nhập, và sự phản
    ứng dữ dội với nó, lên một mức mới hoàn toàn. Nhưng ngay cả khi
    các bức tường sụp đổ, vẫn còn nhiều rào cản đối với sự hội nhập
    toàn cầu suôn sẻ. Hãy nhớ, khi Bill Clinton được bầu làm tổng
    thống năm 1992, hầu như không ai ngoài chính phủ và giới hàn lâm
    có e-mail, và khi tôi viết Xe Lexus và Cây Ô liu năm 1998, Internet
    và thương mại điện tử vừa mới cất cánh.
    Phải, chúng đã cất cánh – cùng với nhiều thứ khác nữa đã cùng
    đến trong khi tôi ngủ. Và đó là lí do vì sao tôi lí lẽ trong cuốn sách
    này rằng vào khoảng năm 2000 chúng ta đã bước vào một kỉ
    nguyên mới hoàn toàn: Toàn cầu hoá 3.0. Toàn cầu hoá 3.0 làm thế
    giới co từ cỡ nhỏ xuống cỡ bé tí và đ
     
    Gửi ý kiến