Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - bước ngoặt lịch sử vĩ đại
Rèn luyện tư duy phản biện

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: https://sachmoi.net/ren-luyen-tu-duy-phan-bien#gsc.tab=0
Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 14h:24' 01-12-2025
Dung lượng: 993.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn: https://sachmoi.net/ren-luyen-tu-duy-phan-bien#gsc.tab=0
Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 14h:24' 01-12-2025
Dung lượng: 993.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
1
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương 1: Khoa học thần kinh về niềm tin và sự hoàn hảo
Chương 2: Ký ức và sự ngộ nhận
Chương 3:Thực tế
Chương 4: Những lập luận và những ngụy biện logic
Chương 5: Tiếp thị, truyền thông, và những trò chơi trí tuệ khác
Chương 6: Những thuyết âm mưu được huyền bí hóa
Kết
Tham khảo
Trích dẫn tài liệu tham khảo
2
LỜI MỞ ĐẦU
S
uy nghĩ là việc chúng ta làm hằng ngày và thường là trong vô thức. Khi
bạn làm bữa sáng, đánh răng hay lái xe đến chỗ làm, bạn cũng đang suy
nghĩ. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ về quá trình suy nghĩ, cách mà bạn đưa ra
quyết định sẽ ăn gì vào bữa trưa hoặc khi nào thì dậy đi làm chưa?
Nghĩ về quá trình suy nghĩ được gọi là siêu nhận thức (metacognition). Nhận
thức được cách hình thành những suy nghĩ là bước đầu tiên trong việc phát triển
các kỹ năng tư duy phản biện. Tư duy phản biện là một phương pháp bạn có thể
dùng để xem xét cẩn thận những suy nghĩ và niềm tin của bạn, và từ đó có khả
năng tương tác với ý tưởng của những người khác một cách cẩn thận. Điều này sẽ
khiến những cuộc hội thoại hằng ngày và những quyết định của bạn dễ dàng hơn
và được cân nhắc cẩn thận hơn, đồng thời giúp bạn giải quyết những vấn đề phức
tạp hơn. Những người tư duy tốt nhất thế giới dùng những chiến thuật tư duy phản
biện để giải quyết những vấn đề lớn như tìm cách lên Sao Hỏa, biến đổi khí hậu
và xóa bỏ vũ khí hạt nhân. Những thứ này có thể quá vĩ mô đối với bạn, nhưng
nếu bạn nghĩ về câu hỏi ẩn sau chúng, tự nhiên chúng sẽ trở nên dễ giải quyết hơn.
Điều gì gây nên biến đổi khí hậu? Ai sẽ chịu trách nhiệm đối với hậu quả? Làm
thế nào để thay đổi họ? Quá trình thay đổi họ sẽ như thế nào? Điều gì khiến quy
trình đó trở nên hiệu quả? Bắt đầu suy nghĩ về những câu hỏi này chính là cách
những người thông minh nhất làm việc.
Bạn cũng có thể áp dụng cách tư duy này cho những vấn đề nhỏ hơn, ví dụ
như nếu bạn muốn bắt đầu tập thể dục, bạn sẽ bắt đầu từ đâu? Bài tập nào sẽ phù
hợp với bạn? Để giải quyết vấn đề này, bạn có thể chia nhỏ vấn đề: Bạn muốn
khỏe mạnh hơn hay muốn chạy nhanh hơn? Bạn đang tìm kiếm lợi ích sức khỏe
nào? Một bài tập thể dục nọ có thực sự tốt như bạn nghĩ? Làm thế nào để nhận
biết bài tập đó có hiệu quả với bạn hay không? May mắn là, chúng ta có thể tiếp
cận được nhiều thông tin hơn bao giờ hết nhờ có Internet, nhưng vấn đề là những
thông tin đó không phải lúc nào cũng chính xác hoặc có giá trị đối với vấn đề của
bạn. Tư duy phản biện sẽ giúp bạn lọc những thông tin này và dùng chúng hiệu
quả nhất có thể.
Bộ não là một cơ quan tuyệt vời. Nó không chỉ nảy sinh ra những suy nghĩ,
mà còn có thể nghĩ về cách nó nảy sinh những suy nghĩ đó. Bộ não có thể nghĩ về
quá khứ, tưởng tượng về tương lai và tưởng tượng những điều chưa bao giờ xảy
ra. Nhưng bộ não cũng có thể đánh lừa chúng ta. Chúng ta đều có những định kiến
mà bản thân không nhận thức được, dựa trên những kinh nghiệm và kiến thức của
chúng ta, thứ sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta nghĩ và nó có thể đánh lừa đánh giá
3
của chúng ta. Những cảm xúc và “bản năng” có xu hướng đưa chúng ta tới những
kết luận không phải lúc nào cũng đúng.
Thay vào đó, chúng thường là những quyết định dễ dàng nhất, những quyết
định chúng ta cảm thấy thoải mái dựa trên những định kiến cá nhân, bởi đây là
một chiến lược sinh tồn tốt với những người nguyên thủy. Họ sống trong một thế
giới mà bản năng là rất có ích, nhưng thế giới hiện đại ngày nay lại phức tạp hơn
rất nhiều. Việc xem xét kỹ lưỡng những quan điểm và suy nghĩ của chúng ta, vì
lợi ích của chính chúng ta và của cả nhân loại đã ngày càng trở nên tối quan trọng.
Bạn có thể nghĩ về tư duy phản biện như là một bộ chiến lược để dẫn đường
giúp bạn tránh xa khỏi các quyết định thiên vị, cảm tính và hướng đến sự cân nhắc
lý trí cho những hành động và đức tin của mình. Điều này sẽ giúp chúng ta trở
thành những người suy nghĩ độc lập, có thể tự đưa ra lựa chọn một cách thấu đáo.
Những kỹ năng mà một người tư duy phản biện cần phát triển bao gồm việc hiểu
được những logic đằng sau những ý niệm và học thuyết, có thể phân tích và công
thức hóa những lập luận, có thể xây dựng những giải pháp từng bước, xác định
tính hợp lệ của những ý tưởng và có thể xem xét những lý do đằng sau đức tin của
chính bạn. Bạn có thể đã nhận ra rằng tư duy phản biện không có nghĩa là chỉ biết
nhiều kiến thức. Đó là một quá trình rất khác so với việc chỉ ghi nhớ hay tiếp nhận
thông tin; giỏi ghi nhớ không khiến bạn trở thành một người có tư duy phản biện
tốt! Những người có tư duy phản biện tập trung hơn vào cách họ biết hơn là cái họ
biết. Điều này có nghĩa là họ có thể sử dụng thứ họ biết để dự đoán hậu quả của
chuỗi hành động, giải quyết các vấn đề và quyết định sẽ dùng thông tin nào khi họ
muốn học một thứ mới.1
Tư duy phản biện không có nghĩa là “phê phán gay gắt”. Thực tế thì, tư duy
phản biện chủ yếu là việc giữ được một cuộc tranh luận hợp lý, bình tĩnh và trí
thức. Tư duy phản biện sẽ cho phép bạn phân tích những lập luận của mọi người
và cho họ thấy cái sai của họ, mà không cần phải lăng mạ hay sỉ nhục người khác.
Điều này sẽ giúp chúng ta làm việc dễ dàng hơn với những người không có cùng
quan điểm. Tư duy phản biện là một chiến lược tốt để sử dụng trong các dự án
nhóm hoặc những việc cần sự hợp tác, chính xác là vì nó tạo ra một môi trường lý
tưởng cho việc tương tác về mặt trí thức.
Quá trình tư duy trí tuệ này không nhất thiết phải cực kỳ sáng tạo. Mặc dù
chúng ta thường nghĩ logic là một thứ đối lập hoàn toàn so với sự sáng tạo, bản
chất của tư duy phản biện chính là làm thế nào để dùng những tư duy logic để
kích thích sự sáng tạo. Sự xem xét một cách logic tất cả các ý tưởng có nghĩa là
bạn nhận ra rằng ý tưởng kém phổ biến hơn lại chính là ý tưởng hợp lý nhất, hoặc
rằng có một giải pháp tốt hơn cho vấn đề bạn đang cân nhắc. Sử dụng những kỹ
năng tư duy phản biện có thể mở ra cho bạn cả một chân trời mà bạn chưa bao giờ
nghĩ tới.
4
Chúng ta sinh ra không có sẵn những kỹ năng tư duy phản biện. Thay vào đó,
chúng ta phải học hỏi và luyện tập thì mới có thể sử dụng tốt những kỹ năng đó.
Tin tốt là, ai cũng có thể học cách tư duy phản biện! Như tất cả các quá trình tự
cải thiện bản thân, học cách tư duy phản biện bắt đầu với việc nhận ra những thứ
bạn cần cải thiện. Điều này có nghĩa là nhận ra được những lỗi sai trong chính
cách suy nghĩ của bạn.
Những lỗi sai đó cũng có đến vài loại. Thứ đầu tiên mà bạn phải nghĩ đến là
những ngụy biện logic, hay chính là lỗi sai bạn tạo ra trong quá trình hợp lý hóa
suy nghĩ. Bạn cũng phải kiểm tra những lầm tưởng trước đó của bạn và xem cái
nào là sai; bạn có thể không nhận ra rằng một vài thứ mà bạn vẫn “biết” thực ra lại
không hoàn toàn chính xác. Bạn cũng nên tự đặt câu hỏi về trí nhớ của mình (mà
không phải lúc nào cũng hoàn toàn chính xác) và liệu những dự đoán cũng như
“giác quan thứ 6” của bạn có đúng hay không. Tất cả những lỗi sai này sẽ được
bàn luận chi tiết hơn trong những chương sau, nhưng hiện tại thì chắc chắn đó là
những thứ bạn cần cân nhắc.
May mắn là, chúng ta có thể sửa lại những lỗi sai phổ biến đó. Đây là khi siêu
nhận thức trở nên rất quan trọng – ví dụ, khi bạn phải nghĩ về việc làm thế nào để
lại nhớ lại một sự kiện và từ đó có thể đánh giá liệu nó có thực sự xảy ra hay
không. Bạn có thể áp dụng những quá trình như theo dõi tiến trình suy nghĩ của
bạn bằng cách ghi chép, thực hiện những thay đổi nếu bạn thấy rằng có gì đó
không tốt hoặc cần cải thiện, tự ý thức được những chiến lược suy nghĩ, và suy
nghĩ xem những kinh nghiệm bạn rút ra có sự kết nối với nhau ra sao. Bạn có thể
nghĩ về quá trình siêu nhận thức này như việc tiếp nhận một sự nghi ngờ khoa học
về điều mà bạn chưa bao giờ thắc mắc trước đó. “Sự nghi ngờ khoa học” có nghĩa
là nghi ngờ một cách thông minh, phân tích quá trình tư duy của bản thân và cách
bạn biết những điều bạn đã biết thông qua những bằng chứng khách quan. Nghiên
cứu những suy nghĩ của bạn giống như chúng là một đối tượng nghiên cứu khoa
học sẽ giúp bạn tìm ra thứ khoa học vẫn luôn hướng tới: sự thật, thay vì những cái
chúng ta mong muốn là sự thật.2
“Duy ý chí” có thể đặc biệt gây hại đến tư duy phản biện vì nó hướng chúng ta
đến những kết luận chúng ta muốn đưa ra thay vì những kết luận chính xác. Cách
tốt nhất để chống lại điều này là tập trung vào bằng chứng khách quan mà bạn thu
thập được, thay vì những phỏng đoán hay những kiến thức bạn biết. Ví dụ, nếu
bạn luôn cảm thấy buồn nôn và đau đầu, bạn có thể tra các triệu chứng trên
Google hoặc là hỏi bạn bè của mình, hoặc là tới bác sĩ. Phương án nào sẽ cung cấp
câu trả lời tốt nhất cho vấn đề của bạn? Rõ ràng là, một bác sĩ với nhiều năm kinh
nghiệm sẽ có thể đánh giá những triệu chứng của bạn với bằng chứng khách quan
và đưa ra một kết luận đáng tin cậy hơn là một trang Wiki hay là bạn của bạn. Do
5
đó, họ sẽ thực sự nói cho bạn điều gì không ổn (nếu có) và ngăn bạn đi đến kết
luận rằng bạn mắc bệnh gì đó nghiêm trọng.
Tất nhiên, bác sĩ thường đại diện cho khoa học thuần túy – một yếu tố quan
trọng đối với các vấn đề khoa học, bởi ngụy khoa học cũng sẽ đưa bạn tới những
kết luận không chính xác. Ví dụ, nếu bạn quyết định tới gặp những pháp sư chữa
trị bằng đá khoáng, họ có thể sẽ không thành công trong việc chữa lành những
triệu chứng của bạn so với bác sĩ. Lý do là vì cách họ hành nghề không hề dựa
trên sự khách quan, hay bằng chứng được xem xét nghiêm ngặt. Bạn luôn có thể
nhận biết điều gì có tính khoa học thuần túy thông qua phương pháp học mà nó sử
dụng. Nó sẽ không đi theo một chuỗi những niềm tin không có căn cứ. Thay vào
đó, nó sẽ đi theo một con đường thẩm định rất cụ thể, hợp lý và logic để đi tới kết
luận. Một người tư duy phản biện có thể nhận ra điều này, và lựa chọn những điều
họ tin là đúng dựa trên con đường thẩm định một cách khoa học.
Điều quan trọng tiếp theo là một người có tư duy phản biện hiểu rất rõ bản
chất của kiến thức. Một trong những bằng chứng khoa học duy nhất có thể quan
sát được là tự nhiên; những hiện tượng thiên nhiên mà chúng ta thấy mỗi ngày
chắc hẳn sẽ có những nguyên nhân tự nhiên. Những nguyên nhân siêu nhiên đến
nay vẫn chưa được chứng minh bởi những phương pháp khoa học (dù bạn muốn
tin vào những thợ săn ma quỷ ra sao) bởi vì chúng không thể đo lường bằng thực
nghiệm được. Những người có tư duy phản biện biết rằng những học thuyết khoa
học không đồng nghĩa với sự thật; sẽ luôn luôn có những lỗi sai gây ra bởi yếu tố
con người trong những quan sát thực nghiệm. Điều này có nghĩa là thông tin luôn
luôn có thể được cải thiện với dữ liệu mới – và đây là một điều tốt! Chừng nào
những bằng chứng thực nghiệm được sử dụng để tiến tới những kết luận và kiến
thức, nó sẽ được cân nhắc cẩn thận hơn là một kết luận được đưa ra mà không có
tư duy phản biện.
Nếu chúng ta sử dụng tư duy phản biện, chúng ta sẽ rất dễ bị cám dỗ bởi suy
nghĩ ảo tưởng, tại đó chúng ta sẽ hoàn toàn sống trong thực tại của chính mình
hay một thực tại được dựng nên bởi người khác. Những thực tại này không thể
biến thành sự thật được, bởi vì chúng không dựa trên bất kỳ quan sát thực nghiệm
nào. Nếu chúng ta sống dựa vào những xúc cảm và những đức tin không có căn
cứ, chúng ta sẽ ngày càng xa rời bản chất của vấn đề bởi vì quan điểm của chúng
ta đã bẻ cong chúng. Điều này được biết tới như là những thiên kiến xác nhận;
chúng ta trở nên hứng thú với việc tìm kiếm những bằng chứng ủng hộ quan điểm
của mình hơn là đưa ra những kết luận từ bằng chứng mà chúng ta nhìn thấy.
Trong một thời kỳ mà chúng ta có thể truy cập vào nhiều thông tin (đúng hoặc sai
lệch) hơn bao giờ hết, sử dụng tư duy phản biện để tránh bị thao túng và dắt mũi
là điều rất cần thiết, cho dù đó là vấn đề liên quan đến sức khỏe, chính trị hay tiêu
dùng. Áp dụng những chiến lược tư duy sẽ giúp bạn có định hướng rõ ràng giữa
biển tri thức và tìm thấy những sự thật.
6
Bạn có thể đã biết tới một vài người có tư duy phản biện nổi tiếng. Họ thường
có chung những đặc điểm sau:
• Sự tò mò về nhiều chủ đề đa dạng;
• Nhận thức rõ về những tình huống họ có thể dùng tư duy phản biện;
• Tự tin vào những lý lẽ của mình;
• Luôn muốn thu nạp thêm nhiều kiến thức mới;
• Hiểu được những quan điểm của người khác;
• Cởi mở để cải thiện đức tin;
• Có sự khách quan trong việc đánh giá lý lẽ;
• Tự nhận thức được những định kiến và những khiếm khuyết của mình;
• Đánh giá cẩn thận khi thay đổi quan điểm; và
• Sẵn sàng thay đổi một luận điểm sai khi được giải thích hợp lý.
Như bạn có thể thấy, chìa khóa để trở thành một người có tư duy phản biện tốt
chính là sự tự nhận thức. Bạn cần phải đánh giá trung thực những điều trước đây
bạn nghĩ là đúng, cũng như quá trình suy nghĩ đã dẫn bạn tới những kết luận đó.
Nếu bạn không có những lý lẽ hợp lý, hoặc nếu suy nghĩ của bạn bị ảnh hưởng bởi
những kinh nghiệm và cảm xúc, thì lúc đó hãy cân nhắc sử dụng tư duy phản
biện! Bạn cần phải nhận ra được rằng con người, kể từ khi sinh ra, rất giỏi việc
đưa ra những lý do lý giải cho những suy nghĩ khiếm khuyết của mình. Nếu bạn
đang có những kết luận sai lệch này thì có một sự thật là những đức tin của bạn
thường mâu thuẫn với nhau và đó thường là kết quả của thiên kiến xác nhận,
nhưng nếu bạn biết điều này, thì bạn đã tiến gần hơn tới sự thật rồi!
Những người tư duy phản biện cũng biết rằng họ cần thu thập những ý tưởng
và đức tin của mọi người. Tư duy phản biện không thể tự nhiên mà có.
Những người khác có thể đưa ra những góc nhìn khác mà bạn có thể chưa bao
giờ nghĩ tới, và họ có thể chỉ ra những lỗ hổng trong logic của bạn mà bạn đã hoàn
toàn bỏ qua. Bạn không cần phải hoàn toàn đồng ý với ý kiến của những người
khác, bởi vì điều này cũng có thể dẫn tới những vấn đề liên quan đến thiên kiến,
nhưng một cuộc thảo luận phản biện là một bài tập tư duy cực kỳ hiệu quả. Việc
lắng nghe những ý kiến của người khác cũng có thể giúp bạn nhận ra rằng phạm
vi tri thức của bạn không phải là vô hạn. Không ai có thể biết hết tất cả mọi thứ.
Nhưng với việc chia sẻ và đánh giá phê bình kiến thức, chúng ta có thể mở rộng
tâm trí. Nếu điều này khiến bạn cảm thấy không thoải mái, không sao cả. Trên
thực tế, bước ra ngoài vùng an toàn là một điều quan trọng để mở rộng niềm tin và
suy nghĩ của bạn. Tư duy phản biện không phải là chỉ biết vài thứ, và chắc chắn
không phải việc xác nhận những điều bạn đã biết. Thay vào đó, nó xoay quanh
việc tìm kiếm sự thật – và biến chúng trở thành thứ mà bạn biết.
7
8
Chương 1
KHOA HỌC THẦN KINH VỀ NIỀM TIN VÀ SỰ
HOÀN HẢO
G
iả sử rằng bạn muốn có một chú chó, và mặc dù bạn cảm thấy giống nào
cũng được, thì vẫn có một giống mà bạn rất thích. Giả sử giống chó mà bạn
thích là giống Corgi. Bạn dừng lại ở một trại chó địa phương và ở đó có một
vài con mà bạn thích, một trong số đó là giống Corgi. Rõ ràng bạn sẽ phải nghiên
cứu những giống chó khác nhau đó. Bạn sẽ gõ gì lên Google? Bạn có thể tìm kiếm
những cụm từ như “chó Pitbull rất nguy hiểm” hay “chó Jack Russell năng động”,
trong khi đối với giống chó mà bạn thích thì bạn lại không đặt những câu hỏi
tương tự. Thay vào đó, bạn gõ vào những thứ như là “chó Corgi có thân thiện với
trẻ em không” hay “chó Corgi có dễ huấn luyện không”. Rõ ràng là những câu hỏi
khác nhau này sẽ đưa ra cho bạn những câu trả lời khác nhau. Mặc dù giống gió
Jack Russell hay giống Pitbull bạn vừa thấy trong trại chó có thể là giống chó phù
hợp nhất với bạn – chó Pitbull nguy hiểm chỉ là một giả thiết, và chó sục Jack
Russell vẫn có thể là giống chó tốt cho gia đình – nhưng những kết quả mà bạn
tìm thấy sẽ tích cực đưa bạn tới kết luận vốn bạn đã định đưa ra: chó Corgi. Bạn
đã nghiên cứu, nhưng não bạn lại lựa chọn những thông tin dựa trên thiên kiến mà
bạn đã ngầm có. Bạn cảm thấy mình như nạn nhân của một vấn đề quá đỗi “con
người”: chúng ta tin vào những thứ chúng ta muốn tin.
Đây không phải là một lựa chọn có ý thức. Não của chúng ta thường tạo ra
những liên kết nơ-ron khiến chúng ta tin vào những thứ chúng ta muốn tin, bởi vì
đây là những phản ứng thuộc về cảm xúc. Những phản ứng xúc cảm đã từng có
ích khi con người phải chạy trốn khỏi những động vật ăn thịt, nhưng chúng lại có
thể cản trở những suy nghĩ hợp lý trong thế giới hiện đại. Tuy nhiên, nếu chúng ta
hiểu được việc này, chúng ta có thể giảm nhẹ ảnh hưởng của những thiên kiến cá
nhân trong não chúng ta.
Não chúng ta hoạt động ở ba cấp độ: bộ “não người,” bộ “não linh trưởng,” và
bộ “não bò sát”. Điều này được biết tới như là “mô hình bộ não ba trong một” và
được phát triển bởi nhà khoa học thần kinh Paul MacLean. Theo như mô hình, ba
“bộ não” này sẽ phản ứng với mỗi phần của bộ não (vỏ não, hệ viền, và hạch nền),
và sẽ hoạt động ở mức độ tương ứng khi chúng ta dần phát triển. Bộ “não người”,
hay tân vỏ não, phần tiến hóa muộn nhất trong quá trình tiến hóa, có thể bị điều
khiển bởi những phần tiến hóa sớm hơn. Rất nhiều quá trình nhận thức của chúng
ta, bao gồm những xúc cảm, thực sự xảy ra vô thức ở những phần não tiến hóa
sớm hơn. Chúng được phát triển sớm trong quá trình tiến hóa bởi chúng giúp
9
chúng ta đưa ra những quyết định nhanh, đây là điều rất quan trọng để sinh tồn khi
chúng ta chưa phát triển được tư duy phức tạp. Ví dụ, nếu bạn ngửi thấy những
hóa chất có mùi khó chịu, bạn đột nhiên sẽ không muốn ăn nó; điều này giúp bạn
sống sót, và nó nhanh hơn, hiệu quả hơn việc đưa ra lý do tại sao bạn không nên
hấp thụ những thứ bạn ngửi.3
Bộ não bò sát là phần tiến hóa sớm nhất trong ba bộ não. Nó được điều khiển
bởi hạch nền, bộ phận nằm ở trung tâm não bộ con người và được tìm thấy ở mọi
động vật, bao gồm cả bò sát và các loài chim. Những học giả cho rằng bộ não của
loài bò sát và những loài động vật tiến-hóa-giai-đoạn-đầu được cấu tạo phần lớn
bởi bộ phận này. Do đó, có học thuyết cho rằng hạch nền là bộ phận phát triển đầu
tiên. Hạch nền điều khiển những hành vi tự vệ, điều cần thiết cho sự sinh tồn của
động vật. Những hành vi này bao gồm ăn uống, chống lại những mối nguy hại,
chạy trốn những nguy hiểm không thể chống đỡ, và sinh sản. Đằng sau những
hành vi này là những hoạt động cơ bản khác như tự vệ, bảo vệ gia đình, giao tiếp,
vai trò xã hội và bảo vệ lãnh thổ hoặc tài sản. MacLean gọi những hành vi này là
những “hành vi điển hình của loài”.
Mặc dù bộ não bò sát rõ ràng rất hữu dụng trong thế giới hoang dã, nó vẫn
đem lại những lợi ích nhất định trong thế giới hiện đại. Mỗi lần chúng ta đối mặt
với nguy hiểm, phản ứng “chiến đấu – thoát thân – đông cứng tạm thời” mà chúng
ta gặp phải được điều khiển bởi chính bộ não bò sát. Nó cũng giúp chúng ta “đánh
hơi” thấy hiểm nguy trước khi nó xảy ra; đây là cách con người có thể “cảm nhận”
được một vụ đột nhập, một vụ cướp hay thậm chí là việc chạm trán một nhân vật
nguy hiểm trước khi nó thực sự xảy ra. Nói ở một cấp độ cơ bản hơn, bộ phận này
của não (hạch nền) là một phản ứng linh cảm về những cái quen thuộc so với
những cái lạ lẫm. Đây chính là lý do tại sao một tình huống mới lạ có thể khiến
chúng ta cảm thấy phấn khích và làm cho tim ta đập nhanh hơn, kể cả khi nó chỉ
là một cuộc phiêu lưu thú vị và chẳng có gì nguy hiểm! Bộ não bò sát sẽ nghỉ ngơi
khi ở xung quanh những thứ quen thuộc, nhưng khi đang ở một môi trường lạ lẫm,
nó sẽ tiết ra adrenaline và một phản ứng cảnh giác tự động. Phản ứng này đứng
sau những phản ứng mạnh mẽ như hồi tưởng và nỗi nhớ nhà. Những nhà quảng
cáo thường đánh mạnh vào những cảm xúc này, và cố gắng gợi chúng ta nghĩ về
những thứ quen thuộc để tạo ra sự liên kết và làm chúng ta thấy an tâm hơn về
một sản phẩm.4
Hiểu được bộ não bò sát là rất quan trọng, bởi vì đó là xuất phát điểm của
những “linh cảm” mà mọi người thường nhắc đến. Mặc dù những bản năng này
giúp chúng ta sống sót trong những tình huống nguy hiểm, chúng cũng có thể làm
chúng ta nhầm tưởng rằng mình đang an toàn, trong khi thực chất đang ở trong
một tình huống không hề quen thuộc.
10
Ví dụ, nếu bạn đang ở nước ngoài với nền văn hóa khác biệt và bạn không thể
nói ngôn ngữ của họ, bộ não bò sát có thể khiến bạn cảm thấy sợ hãi mặc dù bạn
không cần phải sợ. Nó có thể khiến bạn từ chối những ý tưởng không quen thuộc
đơn giản chỉ vì nó mới mẻ đối với bạn. Bộ não bò sát là nguồn gốc của sự tiến hóa
thành công của con người, nhưng nó cũng là nguồn gốc của nhiều hành động xấu
xí nhất của nhân loại. Đó chính là lý do tại sao việc hiểu được khía cạnh này của
cấu tạo thần kinh lại quan trọng đến thế.
Hoạt động của bộ não bò sát cũng liên quan đến điều kiện sống của chúng ta.
Bạn có thể đã nghe về Tháp nhu cầu của Maslow. Học thuyết này được phát triển
bởi Abraham Maslow và nó mô tả những nhu cầu cảm xúc của chúng ta dựa trên
những tình huống trong cuộc sống. Chúng ta có những nhu cầu cơ bản như thức
ăn và chỗ ở nhưng mọi người cũng cần thấy an toàn và được yêu thương. Cuối
cùng khi các nhu cầu cảm xúc khác được đáp ứng, bạn sẽ hình thành lòng tự
trọng, và sau này là thứ gọi là nhu cầu tự thể hiện bản thân. Nhu cầu tự thể hiện
bản thân là giai đoạn khi chúng ta là phiên bản tốt nhất của chính mình, khi chúng
ta được tự do khám phá tiềm năng của mình bởi vì chúng ta không có nhu cầu gì
khác nữa. Cấu trúc thần kinh của chúng ta phần nào đã mô phỏng lại hệ thống
tháp này, bởi những phần não có những nhu cầu cơ bản đã nhấn chìm những phần
có “ít nhu cầu” hơn. Phần vỏ não, phần tiến hóa muộn nhất của não, quản lý nhu
cầu tự thể hiện bản thân này. Hệ thống của Maslow không hề bất biến; bạn có thể
ở trong vài thang nhu cầu cùng một lúc (ví dụ, bạn có thể đói nhưng vẫn yêu và
cảm thấy được yêu thương). Nó chỉ phản ánh những thứ đang diễn ra trong đầu
khi chúng ta cần một thứ gì đó.5
Não bộ chúng ta được tạo ra để biết tránh những hình phạt và tuyên dương
những phần thưởng. Điều này phát triển để chúng ta có thể học cách tránh những
thứ gây hại tới mình - chúng ta cảm thấy tồi tệ khi bị phạt, nhưng não sẽ tiết ra
nhiều dopamine khi chúng ta được trao thưởng. Dopamine là một chất hóa học
làm chúng ta cảm thấy vui vẻ; phát triển khả năng chịu đựng nó cũng có thể dẫn
tới những chứng nghiện. Phản ứng tiến hóa này kích thích quá trình suy nghĩ của
chúng ta để có thể tránh bị phạt và cố gắng được thưởng, mặc dù đây có thể không
phải là quyết định chính xác.6
Những nhu cầu con người có những ảnh hưởng khác nhau lên quá trình suy
nghĩ của chúng ta. Chúng ta cảm thấy một nhu cầu tâm lý sâu sắc đối với việc
kiểm soát hành động và cuộc sống của chính mình, điều này thường được biểu
hiện qua những sai sót phổ biến trong tư duy phản biện. Sự mê tín được sinh ra
khi từ chính nhu cầu kiểm soát của con người, bởi vì nó tạo ra ảo tưởng rằng
chúng ta kiểm soát được những thứ mà chúng ta không th
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương 1: Khoa học thần kinh về niềm tin và sự hoàn hảo
Chương 2: Ký ức và sự ngộ nhận
Chương 3:Thực tế
Chương 4: Những lập luận và những ngụy biện logic
Chương 5: Tiếp thị, truyền thông, và những trò chơi trí tuệ khác
Chương 6: Những thuyết âm mưu được huyền bí hóa
Kết
Tham khảo
Trích dẫn tài liệu tham khảo
2
LỜI MỞ ĐẦU
S
uy nghĩ là việc chúng ta làm hằng ngày và thường là trong vô thức. Khi
bạn làm bữa sáng, đánh răng hay lái xe đến chỗ làm, bạn cũng đang suy
nghĩ. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ về quá trình suy nghĩ, cách mà bạn đưa ra
quyết định sẽ ăn gì vào bữa trưa hoặc khi nào thì dậy đi làm chưa?
Nghĩ về quá trình suy nghĩ được gọi là siêu nhận thức (metacognition). Nhận
thức được cách hình thành những suy nghĩ là bước đầu tiên trong việc phát triển
các kỹ năng tư duy phản biện. Tư duy phản biện là một phương pháp bạn có thể
dùng để xem xét cẩn thận những suy nghĩ và niềm tin của bạn, và từ đó có khả
năng tương tác với ý tưởng của những người khác một cách cẩn thận. Điều này sẽ
khiến những cuộc hội thoại hằng ngày và những quyết định của bạn dễ dàng hơn
và được cân nhắc cẩn thận hơn, đồng thời giúp bạn giải quyết những vấn đề phức
tạp hơn. Những người tư duy tốt nhất thế giới dùng những chiến thuật tư duy phản
biện để giải quyết những vấn đề lớn như tìm cách lên Sao Hỏa, biến đổi khí hậu
và xóa bỏ vũ khí hạt nhân. Những thứ này có thể quá vĩ mô đối với bạn, nhưng
nếu bạn nghĩ về câu hỏi ẩn sau chúng, tự nhiên chúng sẽ trở nên dễ giải quyết hơn.
Điều gì gây nên biến đổi khí hậu? Ai sẽ chịu trách nhiệm đối với hậu quả? Làm
thế nào để thay đổi họ? Quá trình thay đổi họ sẽ như thế nào? Điều gì khiến quy
trình đó trở nên hiệu quả? Bắt đầu suy nghĩ về những câu hỏi này chính là cách
những người thông minh nhất làm việc.
Bạn cũng có thể áp dụng cách tư duy này cho những vấn đề nhỏ hơn, ví dụ
như nếu bạn muốn bắt đầu tập thể dục, bạn sẽ bắt đầu từ đâu? Bài tập nào sẽ phù
hợp với bạn? Để giải quyết vấn đề này, bạn có thể chia nhỏ vấn đề: Bạn muốn
khỏe mạnh hơn hay muốn chạy nhanh hơn? Bạn đang tìm kiếm lợi ích sức khỏe
nào? Một bài tập thể dục nọ có thực sự tốt như bạn nghĩ? Làm thế nào để nhận
biết bài tập đó có hiệu quả với bạn hay không? May mắn là, chúng ta có thể tiếp
cận được nhiều thông tin hơn bao giờ hết nhờ có Internet, nhưng vấn đề là những
thông tin đó không phải lúc nào cũng chính xác hoặc có giá trị đối với vấn đề của
bạn. Tư duy phản biện sẽ giúp bạn lọc những thông tin này và dùng chúng hiệu
quả nhất có thể.
Bộ não là một cơ quan tuyệt vời. Nó không chỉ nảy sinh ra những suy nghĩ,
mà còn có thể nghĩ về cách nó nảy sinh những suy nghĩ đó. Bộ não có thể nghĩ về
quá khứ, tưởng tượng về tương lai và tưởng tượng những điều chưa bao giờ xảy
ra. Nhưng bộ não cũng có thể đánh lừa chúng ta. Chúng ta đều có những định kiến
mà bản thân không nhận thức được, dựa trên những kinh nghiệm và kiến thức của
chúng ta, thứ sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta nghĩ và nó có thể đánh lừa đánh giá
3
của chúng ta. Những cảm xúc và “bản năng” có xu hướng đưa chúng ta tới những
kết luận không phải lúc nào cũng đúng.
Thay vào đó, chúng thường là những quyết định dễ dàng nhất, những quyết
định chúng ta cảm thấy thoải mái dựa trên những định kiến cá nhân, bởi đây là
một chiến lược sinh tồn tốt với những người nguyên thủy. Họ sống trong một thế
giới mà bản năng là rất có ích, nhưng thế giới hiện đại ngày nay lại phức tạp hơn
rất nhiều. Việc xem xét kỹ lưỡng những quan điểm và suy nghĩ của chúng ta, vì
lợi ích của chính chúng ta và của cả nhân loại đã ngày càng trở nên tối quan trọng.
Bạn có thể nghĩ về tư duy phản biện như là một bộ chiến lược để dẫn đường
giúp bạn tránh xa khỏi các quyết định thiên vị, cảm tính và hướng đến sự cân nhắc
lý trí cho những hành động và đức tin của mình. Điều này sẽ giúp chúng ta trở
thành những người suy nghĩ độc lập, có thể tự đưa ra lựa chọn một cách thấu đáo.
Những kỹ năng mà một người tư duy phản biện cần phát triển bao gồm việc hiểu
được những logic đằng sau những ý niệm và học thuyết, có thể phân tích và công
thức hóa những lập luận, có thể xây dựng những giải pháp từng bước, xác định
tính hợp lệ của những ý tưởng và có thể xem xét những lý do đằng sau đức tin của
chính bạn. Bạn có thể đã nhận ra rằng tư duy phản biện không có nghĩa là chỉ biết
nhiều kiến thức. Đó là một quá trình rất khác so với việc chỉ ghi nhớ hay tiếp nhận
thông tin; giỏi ghi nhớ không khiến bạn trở thành một người có tư duy phản biện
tốt! Những người có tư duy phản biện tập trung hơn vào cách họ biết hơn là cái họ
biết. Điều này có nghĩa là họ có thể sử dụng thứ họ biết để dự đoán hậu quả của
chuỗi hành động, giải quyết các vấn đề và quyết định sẽ dùng thông tin nào khi họ
muốn học một thứ mới.1
Tư duy phản biện không có nghĩa là “phê phán gay gắt”. Thực tế thì, tư duy
phản biện chủ yếu là việc giữ được một cuộc tranh luận hợp lý, bình tĩnh và trí
thức. Tư duy phản biện sẽ cho phép bạn phân tích những lập luận của mọi người
và cho họ thấy cái sai của họ, mà không cần phải lăng mạ hay sỉ nhục người khác.
Điều này sẽ giúp chúng ta làm việc dễ dàng hơn với những người không có cùng
quan điểm. Tư duy phản biện là một chiến lược tốt để sử dụng trong các dự án
nhóm hoặc những việc cần sự hợp tác, chính xác là vì nó tạo ra một môi trường lý
tưởng cho việc tương tác về mặt trí thức.
Quá trình tư duy trí tuệ này không nhất thiết phải cực kỳ sáng tạo. Mặc dù
chúng ta thường nghĩ logic là một thứ đối lập hoàn toàn so với sự sáng tạo, bản
chất của tư duy phản biện chính là làm thế nào để dùng những tư duy logic để
kích thích sự sáng tạo. Sự xem xét một cách logic tất cả các ý tưởng có nghĩa là
bạn nhận ra rằng ý tưởng kém phổ biến hơn lại chính là ý tưởng hợp lý nhất, hoặc
rằng có một giải pháp tốt hơn cho vấn đề bạn đang cân nhắc. Sử dụng những kỹ
năng tư duy phản biện có thể mở ra cho bạn cả một chân trời mà bạn chưa bao giờ
nghĩ tới.
4
Chúng ta sinh ra không có sẵn những kỹ năng tư duy phản biện. Thay vào đó,
chúng ta phải học hỏi và luyện tập thì mới có thể sử dụng tốt những kỹ năng đó.
Tin tốt là, ai cũng có thể học cách tư duy phản biện! Như tất cả các quá trình tự
cải thiện bản thân, học cách tư duy phản biện bắt đầu với việc nhận ra những thứ
bạn cần cải thiện. Điều này có nghĩa là nhận ra được những lỗi sai trong chính
cách suy nghĩ của bạn.
Những lỗi sai đó cũng có đến vài loại. Thứ đầu tiên mà bạn phải nghĩ đến là
những ngụy biện logic, hay chính là lỗi sai bạn tạo ra trong quá trình hợp lý hóa
suy nghĩ. Bạn cũng phải kiểm tra những lầm tưởng trước đó của bạn và xem cái
nào là sai; bạn có thể không nhận ra rằng một vài thứ mà bạn vẫn “biết” thực ra lại
không hoàn toàn chính xác. Bạn cũng nên tự đặt câu hỏi về trí nhớ của mình (mà
không phải lúc nào cũng hoàn toàn chính xác) và liệu những dự đoán cũng như
“giác quan thứ 6” của bạn có đúng hay không. Tất cả những lỗi sai này sẽ được
bàn luận chi tiết hơn trong những chương sau, nhưng hiện tại thì chắc chắn đó là
những thứ bạn cần cân nhắc.
May mắn là, chúng ta có thể sửa lại những lỗi sai phổ biến đó. Đây là khi siêu
nhận thức trở nên rất quan trọng – ví dụ, khi bạn phải nghĩ về việc làm thế nào để
lại nhớ lại một sự kiện và từ đó có thể đánh giá liệu nó có thực sự xảy ra hay
không. Bạn có thể áp dụng những quá trình như theo dõi tiến trình suy nghĩ của
bạn bằng cách ghi chép, thực hiện những thay đổi nếu bạn thấy rằng có gì đó
không tốt hoặc cần cải thiện, tự ý thức được những chiến lược suy nghĩ, và suy
nghĩ xem những kinh nghiệm bạn rút ra có sự kết nối với nhau ra sao. Bạn có thể
nghĩ về quá trình siêu nhận thức này như việc tiếp nhận một sự nghi ngờ khoa học
về điều mà bạn chưa bao giờ thắc mắc trước đó. “Sự nghi ngờ khoa học” có nghĩa
là nghi ngờ một cách thông minh, phân tích quá trình tư duy của bản thân và cách
bạn biết những điều bạn đã biết thông qua những bằng chứng khách quan. Nghiên
cứu những suy nghĩ của bạn giống như chúng là một đối tượng nghiên cứu khoa
học sẽ giúp bạn tìm ra thứ khoa học vẫn luôn hướng tới: sự thật, thay vì những cái
chúng ta mong muốn là sự thật.2
“Duy ý chí” có thể đặc biệt gây hại đến tư duy phản biện vì nó hướng chúng ta
đến những kết luận chúng ta muốn đưa ra thay vì những kết luận chính xác. Cách
tốt nhất để chống lại điều này là tập trung vào bằng chứng khách quan mà bạn thu
thập được, thay vì những phỏng đoán hay những kiến thức bạn biết. Ví dụ, nếu
bạn luôn cảm thấy buồn nôn và đau đầu, bạn có thể tra các triệu chứng trên
Google hoặc là hỏi bạn bè của mình, hoặc là tới bác sĩ. Phương án nào sẽ cung cấp
câu trả lời tốt nhất cho vấn đề của bạn? Rõ ràng là, một bác sĩ với nhiều năm kinh
nghiệm sẽ có thể đánh giá những triệu chứng của bạn với bằng chứng khách quan
và đưa ra một kết luận đáng tin cậy hơn là một trang Wiki hay là bạn của bạn. Do
5
đó, họ sẽ thực sự nói cho bạn điều gì không ổn (nếu có) và ngăn bạn đi đến kết
luận rằng bạn mắc bệnh gì đó nghiêm trọng.
Tất nhiên, bác sĩ thường đại diện cho khoa học thuần túy – một yếu tố quan
trọng đối với các vấn đề khoa học, bởi ngụy khoa học cũng sẽ đưa bạn tới những
kết luận không chính xác. Ví dụ, nếu bạn quyết định tới gặp những pháp sư chữa
trị bằng đá khoáng, họ có thể sẽ không thành công trong việc chữa lành những
triệu chứng của bạn so với bác sĩ. Lý do là vì cách họ hành nghề không hề dựa
trên sự khách quan, hay bằng chứng được xem xét nghiêm ngặt. Bạn luôn có thể
nhận biết điều gì có tính khoa học thuần túy thông qua phương pháp học mà nó sử
dụng. Nó sẽ không đi theo một chuỗi những niềm tin không có căn cứ. Thay vào
đó, nó sẽ đi theo một con đường thẩm định rất cụ thể, hợp lý và logic để đi tới kết
luận. Một người tư duy phản biện có thể nhận ra điều này, và lựa chọn những điều
họ tin là đúng dựa trên con đường thẩm định một cách khoa học.
Điều quan trọng tiếp theo là một người có tư duy phản biện hiểu rất rõ bản
chất của kiến thức. Một trong những bằng chứng khoa học duy nhất có thể quan
sát được là tự nhiên; những hiện tượng thiên nhiên mà chúng ta thấy mỗi ngày
chắc hẳn sẽ có những nguyên nhân tự nhiên. Những nguyên nhân siêu nhiên đến
nay vẫn chưa được chứng minh bởi những phương pháp khoa học (dù bạn muốn
tin vào những thợ săn ma quỷ ra sao) bởi vì chúng không thể đo lường bằng thực
nghiệm được. Những người có tư duy phản biện biết rằng những học thuyết khoa
học không đồng nghĩa với sự thật; sẽ luôn luôn có những lỗi sai gây ra bởi yếu tố
con người trong những quan sát thực nghiệm. Điều này có nghĩa là thông tin luôn
luôn có thể được cải thiện với dữ liệu mới – và đây là một điều tốt! Chừng nào
những bằng chứng thực nghiệm được sử dụng để tiến tới những kết luận và kiến
thức, nó sẽ được cân nhắc cẩn thận hơn là một kết luận được đưa ra mà không có
tư duy phản biện.
Nếu chúng ta sử dụng tư duy phản biện, chúng ta sẽ rất dễ bị cám dỗ bởi suy
nghĩ ảo tưởng, tại đó chúng ta sẽ hoàn toàn sống trong thực tại của chính mình
hay một thực tại được dựng nên bởi người khác. Những thực tại này không thể
biến thành sự thật được, bởi vì chúng không dựa trên bất kỳ quan sát thực nghiệm
nào. Nếu chúng ta sống dựa vào những xúc cảm và những đức tin không có căn
cứ, chúng ta sẽ ngày càng xa rời bản chất của vấn đề bởi vì quan điểm của chúng
ta đã bẻ cong chúng. Điều này được biết tới như là những thiên kiến xác nhận;
chúng ta trở nên hứng thú với việc tìm kiếm những bằng chứng ủng hộ quan điểm
của mình hơn là đưa ra những kết luận từ bằng chứng mà chúng ta nhìn thấy.
Trong một thời kỳ mà chúng ta có thể truy cập vào nhiều thông tin (đúng hoặc sai
lệch) hơn bao giờ hết, sử dụng tư duy phản biện để tránh bị thao túng và dắt mũi
là điều rất cần thiết, cho dù đó là vấn đề liên quan đến sức khỏe, chính trị hay tiêu
dùng. Áp dụng những chiến lược tư duy sẽ giúp bạn có định hướng rõ ràng giữa
biển tri thức và tìm thấy những sự thật.
6
Bạn có thể đã biết tới một vài người có tư duy phản biện nổi tiếng. Họ thường
có chung những đặc điểm sau:
• Sự tò mò về nhiều chủ đề đa dạng;
• Nhận thức rõ về những tình huống họ có thể dùng tư duy phản biện;
• Tự tin vào những lý lẽ của mình;
• Luôn muốn thu nạp thêm nhiều kiến thức mới;
• Hiểu được những quan điểm của người khác;
• Cởi mở để cải thiện đức tin;
• Có sự khách quan trong việc đánh giá lý lẽ;
• Tự nhận thức được những định kiến và những khiếm khuyết của mình;
• Đánh giá cẩn thận khi thay đổi quan điểm; và
• Sẵn sàng thay đổi một luận điểm sai khi được giải thích hợp lý.
Như bạn có thể thấy, chìa khóa để trở thành một người có tư duy phản biện tốt
chính là sự tự nhận thức. Bạn cần phải đánh giá trung thực những điều trước đây
bạn nghĩ là đúng, cũng như quá trình suy nghĩ đã dẫn bạn tới những kết luận đó.
Nếu bạn không có những lý lẽ hợp lý, hoặc nếu suy nghĩ của bạn bị ảnh hưởng bởi
những kinh nghiệm và cảm xúc, thì lúc đó hãy cân nhắc sử dụng tư duy phản
biện! Bạn cần phải nhận ra được rằng con người, kể từ khi sinh ra, rất giỏi việc
đưa ra những lý do lý giải cho những suy nghĩ khiếm khuyết của mình. Nếu bạn
đang có những kết luận sai lệch này thì có một sự thật là những đức tin của bạn
thường mâu thuẫn với nhau và đó thường là kết quả của thiên kiến xác nhận,
nhưng nếu bạn biết điều này, thì bạn đã tiến gần hơn tới sự thật rồi!
Những người tư duy phản biện cũng biết rằng họ cần thu thập những ý tưởng
và đức tin của mọi người. Tư duy phản biện không thể tự nhiên mà có.
Những người khác có thể đưa ra những góc nhìn khác mà bạn có thể chưa bao
giờ nghĩ tới, và họ có thể chỉ ra những lỗ hổng trong logic của bạn mà bạn đã hoàn
toàn bỏ qua. Bạn không cần phải hoàn toàn đồng ý với ý kiến của những người
khác, bởi vì điều này cũng có thể dẫn tới những vấn đề liên quan đến thiên kiến,
nhưng một cuộc thảo luận phản biện là một bài tập tư duy cực kỳ hiệu quả. Việc
lắng nghe những ý kiến của người khác cũng có thể giúp bạn nhận ra rằng phạm
vi tri thức của bạn không phải là vô hạn. Không ai có thể biết hết tất cả mọi thứ.
Nhưng với việc chia sẻ và đánh giá phê bình kiến thức, chúng ta có thể mở rộng
tâm trí. Nếu điều này khiến bạn cảm thấy không thoải mái, không sao cả. Trên
thực tế, bước ra ngoài vùng an toàn là một điều quan trọng để mở rộng niềm tin và
suy nghĩ của bạn. Tư duy phản biện không phải là chỉ biết vài thứ, và chắc chắn
không phải việc xác nhận những điều bạn đã biết. Thay vào đó, nó xoay quanh
việc tìm kiếm sự thật – và biến chúng trở thành thứ mà bạn biết.
7
8
Chương 1
KHOA HỌC THẦN KINH VỀ NIỀM TIN VÀ SỰ
HOÀN HẢO
G
iả sử rằng bạn muốn có một chú chó, và mặc dù bạn cảm thấy giống nào
cũng được, thì vẫn có một giống mà bạn rất thích. Giả sử giống chó mà bạn
thích là giống Corgi. Bạn dừng lại ở một trại chó địa phương và ở đó có một
vài con mà bạn thích, một trong số đó là giống Corgi. Rõ ràng bạn sẽ phải nghiên
cứu những giống chó khác nhau đó. Bạn sẽ gõ gì lên Google? Bạn có thể tìm kiếm
những cụm từ như “chó Pitbull rất nguy hiểm” hay “chó Jack Russell năng động”,
trong khi đối với giống chó mà bạn thích thì bạn lại không đặt những câu hỏi
tương tự. Thay vào đó, bạn gõ vào những thứ như là “chó Corgi có thân thiện với
trẻ em không” hay “chó Corgi có dễ huấn luyện không”. Rõ ràng là những câu hỏi
khác nhau này sẽ đưa ra cho bạn những câu trả lời khác nhau. Mặc dù giống gió
Jack Russell hay giống Pitbull bạn vừa thấy trong trại chó có thể là giống chó phù
hợp nhất với bạn – chó Pitbull nguy hiểm chỉ là một giả thiết, và chó sục Jack
Russell vẫn có thể là giống chó tốt cho gia đình – nhưng những kết quả mà bạn
tìm thấy sẽ tích cực đưa bạn tới kết luận vốn bạn đã định đưa ra: chó Corgi. Bạn
đã nghiên cứu, nhưng não bạn lại lựa chọn những thông tin dựa trên thiên kiến mà
bạn đã ngầm có. Bạn cảm thấy mình như nạn nhân của một vấn đề quá đỗi “con
người”: chúng ta tin vào những thứ chúng ta muốn tin.
Đây không phải là một lựa chọn có ý thức. Não của chúng ta thường tạo ra
những liên kết nơ-ron khiến chúng ta tin vào những thứ chúng ta muốn tin, bởi vì
đây là những phản ứng thuộc về cảm xúc. Những phản ứng xúc cảm đã từng có
ích khi con người phải chạy trốn khỏi những động vật ăn thịt, nhưng chúng lại có
thể cản trở những suy nghĩ hợp lý trong thế giới hiện đại. Tuy nhiên, nếu chúng ta
hiểu được việc này, chúng ta có thể giảm nhẹ ảnh hưởng của những thiên kiến cá
nhân trong não chúng ta.
Não chúng ta hoạt động ở ba cấp độ: bộ “não người,” bộ “não linh trưởng,” và
bộ “não bò sát”. Điều này được biết tới như là “mô hình bộ não ba trong một” và
được phát triển bởi nhà khoa học thần kinh Paul MacLean. Theo như mô hình, ba
“bộ não” này sẽ phản ứng với mỗi phần của bộ não (vỏ não, hệ viền, và hạch nền),
và sẽ hoạt động ở mức độ tương ứng khi chúng ta dần phát triển. Bộ “não người”,
hay tân vỏ não, phần tiến hóa muộn nhất trong quá trình tiến hóa, có thể bị điều
khiển bởi những phần tiến hóa sớm hơn. Rất nhiều quá trình nhận thức của chúng
ta, bao gồm những xúc cảm, thực sự xảy ra vô thức ở những phần não tiến hóa
sớm hơn. Chúng được phát triển sớm trong quá trình tiến hóa bởi chúng giúp
9
chúng ta đưa ra những quyết định nhanh, đây là điều rất quan trọng để sinh tồn khi
chúng ta chưa phát triển được tư duy phức tạp. Ví dụ, nếu bạn ngửi thấy những
hóa chất có mùi khó chịu, bạn đột nhiên sẽ không muốn ăn nó; điều này giúp bạn
sống sót, và nó nhanh hơn, hiệu quả hơn việc đưa ra lý do tại sao bạn không nên
hấp thụ những thứ bạn ngửi.3
Bộ não bò sát là phần tiến hóa sớm nhất trong ba bộ não. Nó được điều khiển
bởi hạch nền, bộ phận nằm ở trung tâm não bộ con người và được tìm thấy ở mọi
động vật, bao gồm cả bò sát và các loài chim. Những học giả cho rằng bộ não của
loài bò sát và những loài động vật tiến-hóa-giai-đoạn-đầu được cấu tạo phần lớn
bởi bộ phận này. Do đó, có học thuyết cho rằng hạch nền là bộ phận phát triển đầu
tiên. Hạch nền điều khiển những hành vi tự vệ, điều cần thiết cho sự sinh tồn của
động vật. Những hành vi này bao gồm ăn uống, chống lại những mối nguy hại,
chạy trốn những nguy hiểm không thể chống đỡ, và sinh sản. Đằng sau những
hành vi này là những hoạt động cơ bản khác như tự vệ, bảo vệ gia đình, giao tiếp,
vai trò xã hội và bảo vệ lãnh thổ hoặc tài sản. MacLean gọi những hành vi này là
những “hành vi điển hình của loài”.
Mặc dù bộ não bò sát rõ ràng rất hữu dụng trong thế giới hoang dã, nó vẫn
đem lại những lợi ích nhất định trong thế giới hiện đại. Mỗi lần chúng ta đối mặt
với nguy hiểm, phản ứng “chiến đấu – thoát thân – đông cứng tạm thời” mà chúng
ta gặp phải được điều khiển bởi chính bộ não bò sát. Nó cũng giúp chúng ta “đánh
hơi” thấy hiểm nguy trước khi nó xảy ra; đây là cách con người có thể “cảm nhận”
được một vụ đột nhập, một vụ cướp hay thậm chí là việc chạm trán một nhân vật
nguy hiểm trước khi nó thực sự xảy ra. Nói ở một cấp độ cơ bản hơn, bộ phận này
của não (hạch nền) là một phản ứng linh cảm về những cái quen thuộc so với
những cái lạ lẫm. Đây chính là lý do tại sao một tình huống mới lạ có thể khiến
chúng ta cảm thấy phấn khích và làm cho tim ta đập nhanh hơn, kể cả khi nó chỉ
là một cuộc phiêu lưu thú vị và chẳng có gì nguy hiểm! Bộ não bò sát sẽ nghỉ ngơi
khi ở xung quanh những thứ quen thuộc, nhưng khi đang ở một môi trường lạ lẫm,
nó sẽ tiết ra adrenaline và một phản ứng cảnh giác tự động. Phản ứng này đứng
sau những phản ứng mạnh mẽ như hồi tưởng và nỗi nhớ nhà. Những nhà quảng
cáo thường đánh mạnh vào những cảm xúc này, và cố gắng gợi chúng ta nghĩ về
những thứ quen thuộc để tạo ra sự liên kết và làm chúng ta thấy an tâm hơn về
một sản phẩm.4
Hiểu được bộ não bò sát là rất quan trọng, bởi vì đó là xuất phát điểm của
những “linh cảm” mà mọi người thường nhắc đến. Mặc dù những bản năng này
giúp chúng ta sống sót trong những tình huống nguy hiểm, chúng cũng có thể làm
chúng ta nhầm tưởng rằng mình đang an toàn, trong khi thực chất đang ở trong
một tình huống không hề quen thuộc.
10
Ví dụ, nếu bạn đang ở nước ngoài với nền văn hóa khác biệt và bạn không thể
nói ngôn ngữ của họ, bộ não bò sát có thể khiến bạn cảm thấy sợ hãi mặc dù bạn
không cần phải sợ. Nó có thể khiến bạn từ chối những ý tưởng không quen thuộc
đơn giản chỉ vì nó mới mẻ đối với bạn. Bộ não bò sát là nguồn gốc của sự tiến hóa
thành công của con người, nhưng nó cũng là nguồn gốc của nhiều hành động xấu
xí nhất của nhân loại. Đó chính là lý do tại sao việc hiểu được khía cạnh này của
cấu tạo thần kinh lại quan trọng đến thế.
Hoạt động của bộ não bò sát cũng liên quan đến điều kiện sống của chúng ta.
Bạn có thể đã nghe về Tháp nhu cầu của Maslow. Học thuyết này được phát triển
bởi Abraham Maslow và nó mô tả những nhu cầu cảm xúc của chúng ta dựa trên
những tình huống trong cuộc sống. Chúng ta có những nhu cầu cơ bản như thức
ăn và chỗ ở nhưng mọi người cũng cần thấy an toàn và được yêu thương. Cuối
cùng khi các nhu cầu cảm xúc khác được đáp ứng, bạn sẽ hình thành lòng tự
trọng, và sau này là thứ gọi là nhu cầu tự thể hiện bản thân. Nhu cầu tự thể hiện
bản thân là giai đoạn khi chúng ta là phiên bản tốt nhất của chính mình, khi chúng
ta được tự do khám phá tiềm năng của mình bởi vì chúng ta không có nhu cầu gì
khác nữa. Cấu trúc thần kinh của chúng ta phần nào đã mô phỏng lại hệ thống
tháp này, bởi những phần não có những nhu cầu cơ bản đã nhấn chìm những phần
có “ít nhu cầu” hơn. Phần vỏ não, phần tiến hóa muộn nhất của não, quản lý nhu
cầu tự thể hiện bản thân này. Hệ thống của Maslow không hề bất biến; bạn có thể
ở trong vài thang nhu cầu cùng một lúc (ví dụ, bạn có thể đói nhưng vẫn yêu và
cảm thấy được yêu thương). Nó chỉ phản ánh những thứ đang diễn ra trong đầu
khi chúng ta cần một thứ gì đó.5
Não bộ chúng ta được tạo ra để biết tránh những hình phạt và tuyên dương
những phần thưởng. Điều này phát triển để chúng ta có thể học cách tránh những
thứ gây hại tới mình - chúng ta cảm thấy tồi tệ khi bị phạt, nhưng não sẽ tiết ra
nhiều dopamine khi chúng ta được trao thưởng. Dopamine là một chất hóa học
làm chúng ta cảm thấy vui vẻ; phát triển khả năng chịu đựng nó cũng có thể dẫn
tới những chứng nghiện. Phản ứng tiến hóa này kích thích quá trình suy nghĩ của
chúng ta để có thể tránh bị phạt và cố gắng được thưởng, mặc dù đây có thể không
phải là quyết định chính xác.6
Những nhu cầu con người có những ảnh hưởng khác nhau lên quá trình suy
nghĩ của chúng ta. Chúng ta cảm thấy một nhu cầu tâm lý sâu sắc đối với việc
kiểm soát hành động và cuộc sống của chính mình, điều này thường được biểu
hiện qua những sai sót phổ biến trong tư duy phản biện. Sự mê tín được sinh ra
khi từ chính nhu cầu kiểm soát của con người, bởi vì nó tạo ra ảo tưởng rằng
chúng ta kiểm soát được những thứ mà chúng ta không th
 





