Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - bước ngoặt lịch sử vĩ đại
Phố / Chu Lai

- 0 / 0
Nguồn: https://dtv-ebook.com.vn/
Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 10h:33' 19-12-2025
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 10h:33' 19-12-2025
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
PHẦN MỘT
B
iển sáng nay có mưa bay.
Những sợi mưa mỏng đan xiên xiên vào nắng nhẹ, dệt nên những dây kim nhũ ánh bạc
rồi thảng thốt dừng lại, ngọt ngào chui sâu xuống lòng cát mịn mềm. Gió lao xao. Cả bãi
biển cũng lao xao cảnh yên bình, thơ thới. Và xanh. Xanh đến ngút ngát. Tưởng chừng
những làn gió mặn mòi hơi biển kia cũng mang màu xanh từ khoảng trời nào xa lắm về
đây. Chỉ có những cánh buồm tần tảo ngoài xa và thân thể những con người ở gần đang nô
rỡn, hòa nhập tận cùng với thiên nhiên nguyên thủy là phết vào một sắc màu khác.
Phải có hàng ngàn con người. Người đông đặc trên bãi, người lô xô dưới mép nước,
người ngả nghiêng nhào ra sóng và người rủ nhau dong phao ra xa bờ. Càng xa càng tốt.
Càng xa sóng càng lặng; những đôi vợ chồng trẻ, những cặp tình nhân đủ mọi trang lứa
càng thỏa mãn cảm hứng phiêu diêu được độc quyền cái hoang sơ của vũ trụ, được tạm
quên lãng cái ngột ngạt, chen chúc của thế giới loài người, được chỉ riêng có nhau. Họ nằm
ngửa trên phao vuông, họ chạm tóc nhau trong phao tròn, họ đờ đẫn trong những vòng
tay ôm chìm dưới lòng nước, họ chẳng cần biết có ai, chẳng lưu tâm tới cái gì ngoài sóng và
những va đụng nóng rực do sóng đẩy xô.
Chính lúc đó biển bắt đầu có động. Động bất thần và hờn dỗi như tính khí ngàn năm
khôn dò của các nữ thủy thần. Vách sóng cao hơn. Lưng sóng dồn đuổi nhau dày hơn. Con
thuyền cứu hộ gắn cờ đuôi nheo đằng đuôi bừng tỉnh, vội sủi máy chúi qua chúi lại the thé
phát loa nhắc nhở mọi người vào bờ. Tiếng loa chẳng mấy được quan tâm nhưng cũng đủ
lượng thông tin để gợi nhớ nơi bãi biển đây nhiều sóng quẩn và chẳng mùa hè nào là
chẳng xảy ra vài ba vụ, thậm chí mươi vụ chết chóc thảm sầu. Nhiều cánh phao đã dần lảng
vào sát bờ song cũng không còn ít phao vẫn dập dềnh nấn ná. Chết chóc ư? Làm mồi cho
cá dữ rỉa thịt ư? Kinh thật đấy nhưng ăn thua gì! Muốn vui đến độ cuồng si, muốn hưởng
được niềm hứng khoái hiếm hoi trong bao la, ắt phải chấp nhận một cái giá phải trả chứ
sao? Kệ nó. Từ từ đã. Động biển, động trời mới vui. Tuy vậy, ngay cả ở cánh phao gan góc
nhất cũng chả dám ra xa hơn nữa. Dại gì.
Riêng chỉ có một cái đang lẻ đàn. Họ có hai người, một đàn ông một đàn bà. Hai con
người, hai thể xác, hai linh hồn thu gom lại thành hai chấm đen vật vờ, vô nghĩa. Sóng trào
qua đầu họ rồi sóng lại chuội đi. Cánh phao vẫn bất động, mỏng manh, đảo chao, vô cảm.
Lá cờ cứu hộ đã để lỗi họ. Con mắt đồng loại cũng bỏ quên họ. Họ tách từ từ ra khỏi số
đông mà không hề hay biết. Hoặc có biết? Không rõ, nhưng chỉ thấy hai cái chấm vẫn ẩn
hiện, nhập nhòa tựa hai cái mụn cơm trên da sóng bạc phơ.
Chừng vài mươi phút sau, sóng gió bỗng dịu đi như tự chán cho cái cơn cớ hứng tình
không đúng lúc của mình, lại như biển cả hung tàn chợt lòng trắc ẩn không nỡ làm cho hai
cái chấm nhỏ nhoi kia tan vỡ vào vô định. Mưa tạnh. Nắng hửng màu vàng chanh. Biển
sáng hơn. Cái màu xanh linh diệu ngút ngát trở về. Sự thoáng nhẹ luồn vào tận tiếng sóng
xô, vào tận tiếng cười con gái. Song, ít có ai hay rằng, luật chơi của biển chưa hề kết thúc,
nó chỉ lộn trái cái bộ mặt bí hiểm để đưa ru thêm vào sự nhẹ dạ của con người. Ẩn kín bên
trong cái vẻ hiền hòa ấy, dưới tầng sâu hai thước nước, những dòng chảy ngầm lạnh lẽo
bắt đầu tràn tới.
Bỗng thét lên một tiếng kêu thất thanh của ai đó trên ghềnh đá! Tiếng thét lạc lõng
chìm hút vào không gian toàn tiếng sóng và tiếng nói cười rất đỗi vô tư của hàng ngàn con
người. Tiếng thét không lôi được lá cờ cứu hộ bay ngược trở lại, song nó cũng đủ độ vang
để làm cho người con trai có nét mặt phong trần đang ngồi im sững trên chiếc xe máy
bằng phân khối lớn màu đen ở gần đó nghe thấy, hay đúng hơn, chính đôi mắt suốt từ
sáng đến giờ luôn dõi về cánh phao kia với vẻ buồn buồn đã kịp nhìn thấy. Thoắt rùng mình
một cái, đôi mắt ấy căng lên: trong vành phao, hai cái chấm đen đã biến mất một! Chấm
còn lại còn lạng lơi, quay lại, nhô lên, ngụp xuống như mê hoảng, như sự bơi tìm vô vọng
một lúc rồi cũng từ từ biến theo, trả lại cho chiếc phao sự nhẹ nhõm để lênh tênh giạt nhẹ
vào bờ…
Người con trai chẳng kịp nói một lời, vội dứt tung quần áo dài, lao nhanh người vào
sóng…
Một
T
ất nhiên căn phố dài ước chừng một ngàn hai trăm thước này có tên gọi đàng hoàng,
tên họ một ông vua chói sáng thuở đầu dựng nước hẳn hoi nhưng lâu nay thiên hạ quen
miệng chỉ gọi là PHỐ LÍNH, PHỐ NHÀ BINH cho khỏi lẫn với những khu phố dân sự khác.
Phố chạy thẳng thớm, không có ngã tư ngã năm, số nhà bên trái nhiều gấp đôi số nhà
bên phải, vỉa hè lát gạch rộng rãi, mùa đông kín gió, mùa hạ lá cành giao tán trên cao tạo
thành một hành lang rượi mát, rất mê hoặc những bước chân, những vành xe đạp, xe máy
lầm bụi từ mọi vùng nắng nóng lảng vào. Mặt đường hẹp, ít ổ gà, chỉ khi nào chợt nghe
một vành xích lô bật nảy lên, người ta mới khẽ phàn nàn: “Chán mớ đời! Đường sá cũ rích,
sao lại lắm nắp cống trồi lên đến thế?”
Có một thời, không, mới cách đây chừng vài ba năm chứ mấy, cảnh sắc nơi này còn
thâm trầm ắng lặng lắm. Trải qua bao biến thiên khắc nghiệt của thời gian, thời tiết, của
chiến tranh hay hòa bình, của những cơn bão đốn gục tới phân nửa số lượng gốc cây, của
những ngày nồm bứt rứt mà dường như nghe thấy cả tiếng bước chân nhớp nháp của cô
gái nào làm ca sớm đi qua; hầu như tất cả các căn hộ cao thấp, to nhỏ, ngắn dài vẫn bảo
nhau khinh khỉnh xây lưng ra mặt đường, khiến cho dãy phố đã tăm tối lại còn hun hút nỗi
đe dọa rập rờn mỗi khi ai đó có việc phải đi sớm về khuya qua đây. Chao ôi là những đêm
đông khuya khoắt! Cả dãy phố chỉ độc tôn còn lại tiếng giày đinh quân cảnh gõ uể oải ở hai
bên hè đường, tiếng những đôi tình nhân lả người trong tay nhau nơi vũng tối, tiếng mèo
hoang động tĩnh kêu u oa như trẻ khóc trên mái ngói và tiếng sấu rụng đơn côi xuống mặt
đường chợt khi có làn gió lạnh thổi thốc qua…
Vậy mà hôm nay, bỗng lại như tuân thủ nhất loạt một khẩu lệnh của đấng toàn năng,
sau vài đêm hối hả đục tường, trổ cửa, nới mái… phắp một cái, các căn hộ đã bắt đầu rùng
rùng chuyển động, ngỡ ngàng quay mặt lại với cuộc đời. Bao mảnh tường rêu phong tựa
hồ đã bị quên lãng hàng ngàn năm, còn in nhờ cái dấu chịn ngọt ngào của thân người bỗng
phát khởi thành những khuôn sáng vuông tròn méo lệch. Các cửa hàng, các ki-ốt thấp cao,
to nhỏ lác đác ra đời, cho dù mới chỉ ở dạng hình hài. Tiệm mỹ phẩm bên cạnh tiệm uốn sấy
tóc, quầy dép da nằm đối diện hiệu photocopy, rồi cửa hàng điện lạnh, cửa hàng cho thuê
băng hình video, rồi cà phê, bún phở, xe đạp, xe máy, đồng hồ và giữa phố hình như đã bắt
đầu xuất hiện vài cái đại diện sang trọng của cơ quan giao dịch Mex này, Tex kia…
Phố nhà binh đang vặn mình răng rắc để manh nha hóa thành một khu phố như mọi
khu phố đời thường. Người nhà binh cũng tự phá vỡ mọi mặc cảm, cao kiến và định kiến, vị
thế cố hữu của mảnh giáp trụ quân phục, quân hàm, gia phong gia phả để gắng gỏi hòa
nhập được vào dòng đời đang cuồn cuộn chảy ngoài kia, ngõ hầu mong tìm được cuộc
sống khả dĩ còn gọi được là… cuộc sống.
…
Đó là phác thảo ý tưởng phần đầu một kịch bản phim tài liệu chưa viết xong và cũng
chưa biết bao giờ sẽ viết xong của một vị đạo diễn cũng đang sinh sống ở căn phố này.
Hai
C
ó một gia đình như thế nằm lọt thỏm giữa khu phố đó. Chỉ khác, căn hộ cấp 4 chưa
đầy mười sáu mét vuông của họ nằm thụt hơi sâu vào bức tường ẩm mốc trong một khu
gia binh bên số chẵn mà người ta thường gọi là khu tập thể quân đội, nên vẫn đóng cửa âm
thầm như không hay không biết điều gì đang xảy ra xung quanh. Căn hộ phía ngoài họ, tức
là sát mặt tiền hơn cũng âm thầm như thế nhưng lúc này đây, ở đấy đang vang lên tiếng
kèn ácmônica quen thuộc và ngắt quãng.
Người chồng có tên là Nam, kỹ sư công binh đóng quân tại bên kia cầu Thăng Long. Vợ
là bác sĩ quân y, tên Thảo, khoảng chừng ba mươi tuổi nhưng vẫn còn trẻ lắm, lại đẹp nữa,
một thứ đẹp sâu kín, đoan trang của người Hà Nội cổ xưa. Hai vợ chồng bộ đội mới chỉ sinh
được mỗi mống con gái lên bảy, dáng dấp cao ráo giống cha, mặt mày thanh thoát giống
mẹ và có con mắt nhìn bụi bụi, lỳ lỳ giống cái nhìn của hầu hết những đứa trẻ sinh ra trong
phố lính này. Bé mang tên của mẹ nhưng lấy chữ đệm của cha: Niên Thảo.
Chiều nay thứ bảy, một chiều rét ngọt nhưng khô ráo, vừa lóc cóc đạp xe gần hai mươi
cây số về đến nhà, chị đã đón anh bằng những thông tin quen thuộc sau một tuần xa cách:
- Tiền điện tháng này lên đến gần bảy mươi ngàn anh ạ!
- Những bảy mươi cơ à? Nhiều nhỉ? – Anh cười hiền – Ờ thì bảy mươi. Còn hơn sống tăm
tối như mọi năm. Miễn là…
- Tiền học thêm của con các khoản tiền gần bốn chục ngàn nữa.
- Bốn chục ngàn nữa? – Người chồng trợn mắt nhưng rõ ràng là chẳng có nội dung gì
trong cái trợn đó cả – Ờ thì bốn chục. Vị chi tất cả mới có hơn một trăm. Ăn uống, sắm sanh,
quà cáp vào đó nữa, cứ tạm cho là hai trăm đi. Hai trăm ngàn! Tổng thu nhập các khoản
đồng lương của trung tá anh dồn cho nó là vừa ngoẻn. Ổn thôi! Này! Em còn nhớ cái cậu
Lãm người Hà Nội ở đơn vị anh mà đã có lần anh kể cho em nghe không nhỉ?
- Cho em nói nốt – Chị vợ cười héo hắt – Ở anh, không có chuyện gì khác ngoài chuyện
đơn vị mỗi bận về nhà nữa hay sao?… Ổn? Anh thì lúc nào cũng ổn! Thế chỉ còn một trăm
năm mươi ngàn tổng thu nhập thì cái đồng lương thiếu tá của em, hai vợ chồng ăn đủ
chắc?
- Ờ nhỉ? – Mặt anh đuột ra nhưng liền sau đó lại cười ngay – Đủ chứ. Cứ sống như kiểu
lính rừng ngày xưa mình sống là đủ. Thôi thì anh quyết định như thế này nhé! – Nam đứng
dậy, thân hình cao to phải tới thước tám, chút nữa chạm đầu cái cộp vào thành cửa đang hở
hoác ra những mảng gạch pa-panh xốp xộp – Từ ngày mai anh sẽ tình nguyện bỏ bữa
sáng. Hồi trước sáng có ăn gì đâu mà vẫn sải chân hành quân như ngựa chiến. Vả lại, ăn
vào đạp xe chỉ tổ xóc bụng. Thứ hai, anh cũng xin bỏ thuốc lá luôn, dù là thứ thuốc cuốn,
thuốc rẻ tiền nhất. Thèm quá, nếu em không chê, anh sẽ sắm cái điếu cày, thỉnh thoảng hút
một hơi cho say đứ đự, thế là xong, khỏe người, lại tránh được bệnh ung thư. Thứ ba –
Giọng anh vẫn đều đều, rành rẽ như đang lên khoa mục trước hàng quân – Nhân đà này, ta
cắt béng luôn cái khoản trà đi, nhỉ? Nước trắng uống càng nhuận tràng, ngày xưa mình có
trà lá gì đâu mà đầu óc vẫn tỉnh táo đấy thôi. Thứ tư…
- Thôi, mình ơi!…
Chị nghẹn giọng kêu lên rồi vội quay đi, đưa nhanh chiếc khăn mặt lên miệng. Mỗi tiếng
nói vô tình kia lại như một lát dao cứa ngọt vào lòng chị. Là người đàn bà trong nhà, chị
bỗng cảm thấy mình có tội khi để người đàn ông thân yêu đã có chiều mệt mỏi kia phải lẩn
mẩn tính từng cắc từng hào.
- Tất cả dành cho con – Anh nói tiếp, vẫn vô tình – Đừng bắt nó sáng nào cũng phải nhá
cơm rang hay cơm nguội, khô chết! Mua xôi cho nó, thứ xôi xéo nó vẫn thích ấy. Rồi đến
trường cũng phải có vài trăm uống nước, đỡ tủi với chúng bạn.
Chị lặng nhìn bé Niên Thảo đang nằm thiêm thiếp trong màn, hơi thở đứt quãng, đôi
môi đỏ chon chót thi thoảng lại nhai cái gì chóp chép trong mơ. Tội nghiệp mấy hôm nay
chuyển trời, cứ đến chiều là đầu nó lại hâm hấp sốt, ăn cơm xong, học quấy quá được mươi
phút, bỏ cả chương trình “Bông hoa nhỏ” trên ti vi nhà hàng xóm, đã trèo lên giường nằm
luôn. Chị khẽ thở dài. Cùng tuổi này mà sao nước da nó xanh quá! Đã cố lắm một tuần cũng
không lo đủ vài ba quả trứng vịt lộn cho con…
- Dạo này chuyển học trường xa, toàn cuốc bộ trông nó rạc rài ra – Chị nói – Cả nhà lại
chỉ có độc chiếc xe đạp! Hay là thôi quách cái lớp chuyên toán ấy đi, có giỏi sau này cũng
chẳng ích lợi gì, xin cho nó trở về trường gần nhà.
- Bậy nào! – Anh gừ gừ trong cổ – Dù chết đói cũng không thể bỏ cái lớp chuyên ấy.
Toàn bộ tương lai của nó ở đấy. Mà bốn, năm cây số có gì là xa? Đi bộ cũng là một thứ rèn
thể lực. Anh đây này, nhờ mỗi ngày đạp xe trên ba mươi cây số mà…
- Mà mới có ba mươi tám tuổi, mặt mày đã hốc hác như ông lão sáu mươi chứ gì – Chị
nguýt nhẹ – Người đâu mà dễ dãi quá thể? Kỹ sư giỏi, cống hiến nhiều, huân chương, bằng
khen chất đầy hộc tủ mà… thế nào cũng xong, làm sao cũng được!
Anh cười khà khà rồi tháo bỏ quần áo dài, để lộ những thớ thịt săn rắn ở vai, ở ngực,
bụng, đùi và ngồi vào bàn. Tấm lưng đàn ông vâm vam và mùi thuốc lá khen khét của một
tối mùa đông trong căn phòng gió lạnh đang rin rít thổi qua kẽ ngói đã làm cho đôi mắt
khắc khoải nơi người vợ thoáng ấm lại…
Trước mắt anh là bản vẽ một công trình phụ hiện đại còn dang dở. Đáng lẽ chỉ tối nay là
anh sẽ hoàn tất nó để sáng mai lấy được hơn một trăm ngàn tiền phần trăm thiết kế nhưng
hình ảnh cái tay hạ sĩ đã ra quân vừa gặp lại chiều nay trên mặt cầu không hiểu sao cứ lởn
vởn trong đầu khiến anh chẳng thể tập trung được vào một công việc gì cụ thể. Ừ, tại sao
hôm ấy hắn lại nổi nóng với mình nhỉ? Trước buổi ra quân, anh chỉ thay mặt ban chỉ huy
trung đoàn khuyên hắn hãy nên tĩnh trí một chút trong quan hệ cha con, yêu đương, vợ
chồng. Bản thân cái anh lính giải ngũ trở về đã không có công ăn việc làm, nay lại đèo bòng
thêm một ả giang hồ hay một cái gì đó gần gần như thế nữa thì liệu có ổn không? Có ổn
không, mình chỉ thực lòng gợi ý vậy thôi, mà hắn bỗng đứng nghiêm, mặt lạnh như chì:
“Thưa đồng chí trung đoàn trưởng! Ba năm qua tôi đã được nghe đồng chí nhiều, còn bây
giờ, tôi xin phép được tập sống cho riêng tôi, sống đúng tôi, mất tôi chịu, được tôi nhờ. Hơn
nữa, chuyện tình cảm riêng tư, lấy ai, yêu ai, theo chỗ tôi được biết, nó không nằm trong
điều lệnh quân đội và cũng không nằm trong điều cấm của tư cách công dân. Xin đồng chí
bỏ quá cho.” Lại còn xin bỏ quá cho nữa mới kinh chứ! Rồi hắn rập gót giày chào theo đúng
điều lệnh nhà binh và quay ra luôn. Chà! Chỉ cần một cú chào quyết liệt như thế là mình
biết cậu chàng sẽ không bao giờ còn bén mảng đến cái thế giới quân nhân nhọc nhằn này
nữa. Vậy mà chiều nay lại gặp hắn đi thất thểu trên cầu, hình như cùng đi với cái cô mà hắn
đã dính dáng thì phải. Trông thấy mình, hắn đã đánh mắt đi và mình thật lòng cũng không
tiện hỏi.
- Rồi cuộc đời cậu ta sẽ nổi trôi đến đâu? – Anh nói lầm bầm – Với cái tính khí ấy, một là
sẽ rất thành đạt, hai là sẽ vô cùng vạ vật…
- Anh nói ai vạ vật kia? – Chị ngừng tay thái lá nhân trần, nhìn lên ngơ ngác.
- À, không! Anh đang nghĩ đến cái cậu Lãm ấy. Em có biết không…
Chị lại nhìn xuống. Chao ôi! Mới có mười mấy năm hậu chiến mà anh đã thành một ông
già ưa nói năng lẩm bẩm một mình rồi ư? Ngày xưa đói khổ, ác liệt là thế mà mỗi bận nhìn
anh là mỗi bận cảm thấy anh tươi rói như chạy ra từ hướng mặt trời. Chuyển đống nhân
trần về cạnh chân ghế nơi chồng đang ngồi, chị lặng lẽ cắt thái, để mặc cho cái hơi nóng
khen khét quá đỗi thân thuộc của một thân hình đàn ông tràn trề sinh lực tỏa ra, lan ra, dìu
dịu bao phủ lấy mình. Đối với chị, chị chỉ có anh, trước kia, hiện nay và chắc mãi mãi sau này
cũng thế. Chị yêu anh, cần anh và… thèm anh. Thèm như cái buổi tức tưởi ban đầu, thèm
như những ngày mới cưới, dẫu rằng ăn ở với nhau đã thấm thoắt ngoài chục năm có lẻ. Nói
điều này ra, mấy đứa bạn thân hay cô em đáo để toàn cười, lại còn khoáy sâu vào: “Thế thì
trúng số độc đắc rồi mà Khốt ơi! Thời buổi này người ta chỉ thèm bồ chứ ai lại đi thèm cái
dụng cụ trong nhà được gọi là chồng ấy”. Bực lên, chị luận lại: “Ở đời chỉ cần đạt được hai
cái thèm là thèm làm việc và thèm chồng là đủ cho tất cả rồi”. Lại há há hí hí đến là ghét:
“Bà thèm làm việc à? Có việc đâu mà thèm, hay chỉ là một cách bố thí đồng lương? Còn
chồng? Đẹp trai đấy, to lớn đấy, tốt bụng đấy nhưng thử nhìn lại xem có khác gì cái anh
hình nhân đứng ngoài đồng? Người gì mà hòn đất củ khoai, ai nặn nọt kiểu gì cũng được;
chỉ cần nói một tiếng là có thể về sống cạnh vợ con, sống trong một cơ quan Bộ đàng
hoàng mà lại cứ cười hì hì. Bảo ông ấy cạo trọc đầu đi tu đi bà ơi!” Chị im lặng không nói
nữa. Họ đã nói đúng và nỗi đau của chị một phần nhưng phần khác, họ làm sao có thể biết
rằng, chính vì lẽ ấy mà chị càng yêu anh nhiều hơn. Là vợ, tôi hiểu rằng đấy là một chút kiêu
hãnh của cả một thời trận mạc anh ấy còn giữ lại được chứ chẳng đơn giản là hình nhân
đâu các cô gái ạ!
- Em bảo này!…
Anh giật mình dứt khỏi dòng suy nghĩ nặng nề, cúi xuống bên vợ:
- Có gì phải không em?
- Không… Anh cứ làm đi!
Chị lại cúi xuống. Con mắt anh nhìn chị trong trẻo quá! Giọng nói anh hồn hậu quá, chị
không nỡ, chị chưa thể nói lúc này được.
- Mặc áo vào đi anh! Lạnh đấy, chủ quan rồi có bận lại…
- Kệ anh. Anh quen rồi. Về nhà có mỗi cái sướng là thế này thôi.
Chị lắc đầu cười nhẹ… Nhưng có một điều chị không thể nói ra là anh cũng khôn
nguôi… khao khát chị. Khao khát đến quá quắt. Dường như cái sự khát của anh đã lây lan
sang chị chứ cả như chị thì đâu tới nỗi thế. Hầu như suốt hơn chục năm, trừ những đặc
biệt, những đêm chị vào ca trực, những ngày anh phải đi công tác xa, mà chuyện đi công
tác đối với anh là chuyện cơm bữa; còn lại không có đêm nào là anh không có nhu cầu được
gần vợ, có đêm gần tới… hai, ba lần, lần nào cũng háo hức như lần đầu! Nếu có can gián,
anh lập tức cãi lại: “Buồn cười nhỉ? Người lính chẳng có cái gì của riêng mình, chỉ còn mỗi
cái bệnh THÈM VỢ, căn bệnh quý hóa mà người khác muốn cũng không có được, lại bị tước
mất à? Cho nên, cũng khác với nhiều người, anh sẽ trụ lại ở quân đội đến lúc cuối đời để
được…” Người gì mà toàn triết lý vơ vào nhưng chị đã mặc nhiên chấp nhận như chấp nhận
cái mùi nồng nồng khen khét nặng tới hơn bảy mươi lăm cân đêm đêm phủ nghiến xuống
thân thể mảnh mai của mình để trở thành một sức đè quen thuộc không thể thiếu được.
Buồn cười… Cứ nghĩ đến chuyện này là bỗng dưng chị thấy nóng bừng cả mặt: ai đời có
bạn chiến đấu thân thiết cũ là nhà đạo diễn phim tài liệu Nguyễn Trọng Bình, khi ấy còn
chưa được phân một căn hộ ở gần đây, vừa tu nghiệp chính quy tại nước ngoài về đến chơi
mà ông ấy cũng không tha. Nhà thì chật, trời thì nóng, chiếc quạt tai voi cứ cọt kẹt kêu ở
góc nhà như tiếng ca cẩm của một bà già chết chồng dai nhách; vậy mà chỉ chờ tiếng ngáy
như nhè ruột ra rồi lại nhóp nhép nuốt ruột vào của Bình nằm trên chiếc ghế bố kê ở ngoài
hiên rền lên là… chân tay ông ấy bắt đầu ngọ nguậy! Chao ôi! Bao năm rồi mà tay gì cứ
cứng như thép! Lại còn bắp chân, bắp đùi nữa chứ… “Sao cái bàn tay mình nó lại ưng đi
công tác trên ngực em nhiều nhiều đấy”. Cái giọng lơ lớ giả tiếng dân tộc một thời trên
Trường Sơn của anh đã khiến chị lịm đi, muốn quằn mình rên lên nếu không có tiếng ụ ợ
của bé Niên Thảo nằm bên cạnh. Đến ngày thứ ba, nhà đạo diễn bắt đầu cằn nhằn: “Vừa
phải thôi chứ mày, Nam! Đêm nào tao cũng phải giả vờ ngáy đến rát cuống mũi thế này thì
còn ngủ nghê chó gì nữa!”. Đi làm vừa về đến cửa, nghe được câu ấy, chị muốn chui tụt
xuống đất, vậy mà ông chồng còn ngoác miệng ra cười? Nhưng đã thôi cho đâu. Chả biết
anh bạn đêm sau ngủ thật, hay ngủ giả nữa, nửa đêm anh bấm chị chuồn lên sân thượng
mà ở đó, lâu nay chỉ có tiếng mèo động tình kêu hoang đến nẫu ruột, nách cắp chiếc ni
lông chiến trận ngày xưa còn giữ lại được, dấm dúi như hai cái đứa ăn trộm đêm… “Nếu
cuộc sống đừng quá khó khăn như thế này, anh dư sức cho em để đủ hai chục tí nhau,
mười bé lên rừng, mười bé xuống biển…” Anh ồm ồm nói thế và chị chỉ còn biết giụi mặt
vào cái khuôn ngực vạm vỡ, rắn chắc, thoang thoảng mùi xăng dầu, mùi cầu phà, mùi đất
đai cây cỏ của anh.
Nhà bên, tiếng ácmônica đã tắt ngấm từ lâu nhưng cái nét nhạc buồn buồn của nó
dường như vẫn còn văng vẳng đâu đây trên mái ngói.
- Dạo này trộm cắp lảng vảng quanh khu ta nhiều, đi ngủ anh nhớ nhắc em đừng để
ngỏ cửa sổ như mọi khi nhé! Nhà có mỗi chiếc xe đạp, không khéo lại…
- Em đi nghỉ trước đi, khuya rồi. Anh vẽ rốn thêm chi tiết này nữa. Dạo này em hơi gầy,
mắt buồn buồn thế nào ấy? Cũng phải ăn uống cẩn thận một tý, đừng có cái gì cũng
nhường cả cho bố con anh.
Chị dừng tay thái lá, đứng lên, dựa người vào chồng, cúi xuống cắn khe khẽ vào cái bả
vai để trần của anh, cái bả vai mằn mặn… Mùi thảo mộc tinh khiết, thơm ngọt bay lên, quẩn
quanh khắp phòng. Bằng những tín hiệu quen thuộc như thế, anh biết đêm nay chị sẽ nói
với anh một điều gì mà suốt cả tuần nay, đôi mắt rất đẹp của chị đã mơ hồ nói trước. Anh
mỉm cười. Giá lúc này không phải lúc bận tâm vì cái toa-lét cầu kỳ trong bản vẽ kia, giá hình
ảnh bặm trợn và lam lũ của cậu hạ sĩ người Hà Nội mới ra quân ấy không thôi ám ảnh thì có
lẽ, với những chiếc răng cắn như điện giật này, anh đã bế nhẹ chị lên giường rồi. Không,
xuống nền nhà chứ. Từ ngày bé Niên Thảo đã lên lớp hai, chỗ của hai người tự nhiên
chuyển xuống dưới đất, cách cái thiên thần non nớt kia một tấm dù pháo sáng chắn hờ,
cũng là mảnh dù chiến trận hồi nào còn giữ lại được. Tấm dù mà…
Ba
vời! Thậm chí trên… tuyệt vời! Buổi tối yên ả trong một gia đình của một thế kỷ
- Tuyệt
lãng mạn đã quá vãng.
Một giọng nói du dương nửa nam nửa nữ theo kiểu bán băng phiến dạo đột ngột vang
lên ngay tại cửa ra vào. Đó là đạo diễn Trọng Bình kiêm nghề kiến trúc sư có hạng, thương
binh loại bốn trên tám, tóc dài râu rậm, vóc dáng nhỏ con nhưng chuyên nói lời vu quát,
bạn hàng xóm thân thiết của cả hai vợ chồng.
- Mình khóc mất. – Bình nhệch môi khiến hàng râu tua tủa như dây kẽm gai của anh trễ
xuống – giữa thác lũ dòng đời, giữa cuộc làm tình vĩ đại của thứ giả cưỡng dâm thứ thiệt,
giữa nạn hồng thủy trổ tường nới mái ngang ngửa mà vẫn nổi lên một cù lao yên bình thế
này thì… khóc mất!
Thảo đỏ mặt vội vàng rời chồng ra, phì cười:
- Cái anh này! Bao giờ cũng xuất hiện sau lưng người ta rồi lem lẻm chọc ngoáy. Gớm!
Râu với ria, cạo bớt đi ông ạ!
- Cạo là sao? Tất cả hình như đang bị coi là xấu: xấu mã, xấu số, xấu tư tưởng, xấu thói,
xấu đủ chuyện; còn mỗi cái râu cái tóc là tốt nhất mà lại đi cắt đi à? Nào, thử xảy ra một vụ
cưỡng hiếp hay cháy nhà trên đường phố xem, thằng nhẵn nhụi hay thằng râu ria sẽ nhảy
vào? Con gái cưng của tôi đâu? Ngủ khì rồi à? Tội chưa!… Chắc cái thằng bố con mẹ nó đã
bắt bé học quá đây mà.
Anh rón rén đi lại giường cô bé như dáng đi của một vũ sư ba-lê rồi đặt nhẹ vào cạnh
gối nó mấy thỏi sô-cô-la. – Ngủ đi! Ngủ dậy mọi việc sẽ khác. Còn như đời bố nó, chú nó thì
coi như hỏng từ lâu rồi. Ấy, đừng cất! Để cho suốt giấc ngủ của nó đều thoang thoảng mùi
no ấm thơm tho. Nhỉ? Con gái xinh nhỉ?
Thảo tự dưng thấy sống mũi mình cay cay. Hết chiến tranh từ lâu rồi nhưng chị vẫn
không bỏ được cái tính hay mủi lòng trước một câu nói ủy mị, một tình cảm chân thành của
người khác, nhất là khi cái tình cảm đó lại hướng về đứa con bé bỏng, cái kỷ vật thiêng liêng
nhất của hai vợ chồng.
- Bữa nay bác Bình sang chơi, không may nhà hết mất trà – Chị kín đáo liếc nhìn chồng
rồi bối rối rót từ ấm tích ra đưa cho anh một cốc nước đen đặc – Bác uống tạm!
- Nhân trần à? Tuyệt vời! Thậm chí… trên tuyệt vời! Chồng ngồi vẽ hố xí cho bọn trọc
phú mới, vợ thái lá nhân trần cho bọn đầy bụng hiện đại, cõi đời xem ra nhiều phần lý thú!
Anh uống
B
iển sáng nay có mưa bay.
Những sợi mưa mỏng đan xiên xiên vào nắng nhẹ, dệt nên những dây kim nhũ ánh bạc
rồi thảng thốt dừng lại, ngọt ngào chui sâu xuống lòng cát mịn mềm. Gió lao xao. Cả bãi
biển cũng lao xao cảnh yên bình, thơ thới. Và xanh. Xanh đến ngút ngát. Tưởng chừng
những làn gió mặn mòi hơi biển kia cũng mang màu xanh từ khoảng trời nào xa lắm về
đây. Chỉ có những cánh buồm tần tảo ngoài xa và thân thể những con người ở gần đang nô
rỡn, hòa nhập tận cùng với thiên nhiên nguyên thủy là phết vào một sắc màu khác.
Phải có hàng ngàn con người. Người đông đặc trên bãi, người lô xô dưới mép nước,
người ngả nghiêng nhào ra sóng và người rủ nhau dong phao ra xa bờ. Càng xa càng tốt.
Càng xa sóng càng lặng; những đôi vợ chồng trẻ, những cặp tình nhân đủ mọi trang lứa
càng thỏa mãn cảm hứng phiêu diêu được độc quyền cái hoang sơ của vũ trụ, được tạm
quên lãng cái ngột ngạt, chen chúc của thế giới loài người, được chỉ riêng có nhau. Họ nằm
ngửa trên phao vuông, họ chạm tóc nhau trong phao tròn, họ đờ đẫn trong những vòng
tay ôm chìm dưới lòng nước, họ chẳng cần biết có ai, chẳng lưu tâm tới cái gì ngoài sóng và
những va đụng nóng rực do sóng đẩy xô.
Chính lúc đó biển bắt đầu có động. Động bất thần và hờn dỗi như tính khí ngàn năm
khôn dò của các nữ thủy thần. Vách sóng cao hơn. Lưng sóng dồn đuổi nhau dày hơn. Con
thuyền cứu hộ gắn cờ đuôi nheo đằng đuôi bừng tỉnh, vội sủi máy chúi qua chúi lại the thé
phát loa nhắc nhở mọi người vào bờ. Tiếng loa chẳng mấy được quan tâm nhưng cũng đủ
lượng thông tin để gợi nhớ nơi bãi biển đây nhiều sóng quẩn và chẳng mùa hè nào là
chẳng xảy ra vài ba vụ, thậm chí mươi vụ chết chóc thảm sầu. Nhiều cánh phao đã dần lảng
vào sát bờ song cũng không còn ít phao vẫn dập dềnh nấn ná. Chết chóc ư? Làm mồi cho
cá dữ rỉa thịt ư? Kinh thật đấy nhưng ăn thua gì! Muốn vui đến độ cuồng si, muốn hưởng
được niềm hứng khoái hiếm hoi trong bao la, ắt phải chấp nhận một cái giá phải trả chứ
sao? Kệ nó. Từ từ đã. Động biển, động trời mới vui. Tuy vậy, ngay cả ở cánh phao gan góc
nhất cũng chả dám ra xa hơn nữa. Dại gì.
Riêng chỉ có một cái đang lẻ đàn. Họ có hai người, một đàn ông một đàn bà. Hai con
người, hai thể xác, hai linh hồn thu gom lại thành hai chấm đen vật vờ, vô nghĩa. Sóng trào
qua đầu họ rồi sóng lại chuội đi. Cánh phao vẫn bất động, mỏng manh, đảo chao, vô cảm.
Lá cờ cứu hộ đã để lỗi họ. Con mắt đồng loại cũng bỏ quên họ. Họ tách từ từ ra khỏi số
đông mà không hề hay biết. Hoặc có biết? Không rõ, nhưng chỉ thấy hai cái chấm vẫn ẩn
hiện, nhập nhòa tựa hai cái mụn cơm trên da sóng bạc phơ.
Chừng vài mươi phút sau, sóng gió bỗng dịu đi như tự chán cho cái cơn cớ hứng tình
không đúng lúc của mình, lại như biển cả hung tàn chợt lòng trắc ẩn không nỡ làm cho hai
cái chấm nhỏ nhoi kia tan vỡ vào vô định. Mưa tạnh. Nắng hửng màu vàng chanh. Biển
sáng hơn. Cái màu xanh linh diệu ngút ngát trở về. Sự thoáng nhẹ luồn vào tận tiếng sóng
xô, vào tận tiếng cười con gái. Song, ít có ai hay rằng, luật chơi của biển chưa hề kết thúc,
nó chỉ lộn trái cái bộ mặt bí hiểm để đưa ru thêm vào sự nhẹ dạ của con người. Ẩn kín bên
trong cái vẻ hiền hòa ấy, dưới tầng sâu hai thước nước, những dòng chảy ngầm lạnh lẽo
bắt đầu tràn tới.
Bỗng thét lên một tiếng kêu thất thanh của ai đó trên ghềnh đá! Tiếng thét lạc lõng
chìm hút vào không gian toàn tiếng sóng và tiếng nói cười rất đỗi vô tư của hàng ngàn con
người. Tiếng thét không lôi được lá cờ cứu hộ bay ngược trở lại, song nó cũng đủ độ vang
để làm cho người con trai có nét mặt phong trần đang ngồi im sững trên chiếc xe máy
bằng phân khối lớn màu đen ở gần đó nghe thấy, hay đúng hơn, chính đôi mắt suốt từ
sáng đến giờ luôn dõi về cánh phao kia với vẻ buồn buồn đã kịp nhìn thấy. Thoắt rùng mình
một cái, đôi mắt ấy căng lên: trong vành phao, hai cái chấm đen đã biến mất một! Chấm
còn lại còn lạng lơi, quay lại, nhô lên, ngụp xuống như mê hoảng, như sự bơi tìm vô vọng
một lúc rồi cũng từ từ biến theo, trả lại cho chiếc phao sự nhẹ nhõm để lênh tênh giạt nhẹ
vào bờ…
Người con trai chẳng kịp nói một lời, vội dứt tung quần áo dài, lao nhanh người vào
sóng…
Một
T
ất nhiên căn phố dài ước chừng một ngàn hai trăm thước này có tên gọi đàng hoàng,
tên họ một ông vua chói sáng thuở đầu dựng nước hẳn hoi nhưng lâu nay thiên hạ quen
miệng chỉ gọi là PHỐ LÍNH, PHỐ NHÀ BINH cho khỏi lẫn với những khu phố dân sự khác.
Phố chạy thẳng thớm, không có ngã tư ngã năm, số nhà bên trái nhiều gấp đôi số nhà
bên phải, vỉa hè lát gạch rộng rãi, mùa đông kín gió, mùa hạ lá cành giao tán trên cao tạo
thành một hành lang rượi mát, rất mê hoặc những bước chân, những vành xe đạp, xe máy
lầm bụi từ mọi vùng nắng nóng lảng vào. Mặt đường hẹp, ít ổ gà, chỉ khi nào chợt nghe
một vành xích lô bật nảy lên, người ta mới khẽ phàn nàn: “Chán mớ đời! Đường sá cũ rích,
sao lại lắm nắp cống trồi lên đến thế?”
Có một thời, không, mới cách đây chừng vài ba năm chứ mấy, cảnh sắc nơi này còn
thâm trầm ắng lặng lắm. Trải qua bao biến thiên khắc nghiệt của thời gian, thời tiết, của
chiến tranh hay hòa bình, của những cơn bão đốn gục tới phân nửa số lượng gốc cây, của
những ngày nồm bứt rứt mà dường như nghe thấy cả tiếng bước chân nhớp nháp của cô
gái nào làm ca sớm đi qua; hầu như tất cả các căn hộ cao thấp, to nhỏ, ngắn dài vẫn bảo
nhau khinh khỉnh xây lưng ra mặt đường, khiến cho dãy phố đã tăm tối lại còn hun hút nỗi
đe dọa rập rờn mỗi khi ai đó có việc phải đi sớm về khuya qua đây. Chao ôi là những đêm
đông khuya khoắt! Cả dãy phố chỉ độc tôn còn lại tiếng giày đinh quân cảnh gõ uể oải ở hai
bên hè đường, tiếng những đôi tình nhân lả người trong tay nhau nơi vũng tối, tiếng mèo
hoang động tĩnh kêu u oa như trẻ khóc trên mái ngói và tiếng sấu rụng đơn côi xuống mặt
đường chợt khi có làn gió lạnh thổi thốc qua…
Vậy mà hôm nay, bỗng lại như tuân thủ nhất loạt một khẩu lệnh của đấng toàn năng,
sau vài đêm hối hả đục tường, trổ cửa, nới mái… phắp một cái, các căn hộ đã bắt đầu rùng
rùng chuyển động, ngỡ ngàng quay mặt lại với cuộc đời. Bao mảnh tường rêu phong tựa
hồ đã bị quên lãng hàng ngàn năm, còn in nhờ cái dấu chịn ngọt ngào của thân người bỗng
phát khởi thành những khuôn sáng vuông tròn méo lệch. Các cửa hàng, các ki-ốt thấp cao,
to nhỏ lác đác ra đời, cho dù mới chỉ ở dạng hình hài. Tiệm mỹ phẩm bên cạnh tiệm uốn sấy
tóc, quầy dép da nằm đối diện hiệu photocopy, rồi cửa hàng điện lạnh, cửa hàng cho thuê
băng hình video, rồi cà phê, bún phở, xe đạp, xe máy, đồng hồ và giữa phố hình như đã bắt
đầu xuất hiện vài cái đại diện sang trọng của cơ quan giao dịch Mex này, Tex kia…
Phố nhà binh đang vặn mình răng rắc để manh nha hóa thành một khu phố như mọi
khu phố đời thường. Người nhà binh cũng tự phá vỡ mọi mặc cảm, cao kiến và định kiến, vị
thế cố hữu của mảnh giáp trụ quân phục, quân hàm, gia phong gia phả để gắng gỏi hòa
nhập được vào dòng đời đang cuồn cuộn chảy ngoài kia, ngõ hầu mong tìm được cuộc
sống khả dĩ còn gọi được là… cuộc sống.
…
Đó là phác thảo ý tưởng phần đầu một kịch bản phim tài liệu chưa viết xong và cũng
chưa biết bao giờ sẽ viết xong của một vị đạo diễn cũng đang sinh sống ở căn phố này.
Hai
C
ó một gia đình như thế nằm lọt thỏm giữa khu phố đó. Chỉ khác, căn hộ cấp 4 chưa
đầy mười sáu mét vuông của họ nằm thụt hơi sâu vào bức tường ẩm mốc trong một khu
gia binh bên số chẵn mà người ta thường gọi là khu tập thể quân đội, nên vẫn đóng cửa âm
thầm như không hay không biết điều gì đang xảy ra xung quanh. Căn hộ phía ngoài họ, tức
là sát mặt tiền hơn cũng âm thầm như thế nhưng lúc này đây, ở đấy đang vang lên tiếng
kèn ácmônica quen thuộc và ngắt quãng.
Người chồng có tên là Nam, kỹ sư công binh đóng quân tại bên kia cầu Thăng Long. Vợ
là bác sĩ quân y, tên Thảo, khoảng chừng ba mươi tuổi nhưng vẫn còn trẻ lắm, lại đẹp nữa,
một thứ đẹp sâu kín, đoan trang của người Hà Nội cổ xưa. Hai vợ chồng bộ đội mới chỉ sinh
được mỗi mống con gái lên bảy, dáng dấp cao ráo giống cha, mặt mày thanh thoát giống
mẹ và có con mắt nhìn bụi bụi, lỳ lỳ giống cái nhìn của hầu hết những đứa trẻ sinh ra trong
phố lính này. Bé mang tên của mẹ nhưng lấy chữ đệm của cha: Niên Thảo.
Chiều nay thứ bảy, một chiều rét ngọt nhưng khô ráo, vừa lóc cóc đạp xe gần hai mươi
cây số về đến nhà, chị đã đón anh bằng những thông tin quen thuộc sau một tuần xa cách:
- Tiền điện tháng này lên đến gần bảy mươi ngàn anh ạ!
- Những bảy mươi cơ à? Nhiều nhỉ? – Anh cười hiền – Ờ thì bảy mươi. Còn hơn sống tăm
tối như mọi năm. Miễn là…
- Tiền học thêm của con các khoản tiền gần bốn chục ngàn nữa.
- Bốn chục ngàn nữa? – Người chồng trợn mắt nhưng rõ ràng là chẳng có nội dung gì
trong cái trợn đó cả – Ờ thì bốn chục. Vị chi tất cả mới có hơn một trăm. Ăn uống, sắm sanh,
quà cáp vào đó nữa, cứ tạm cho là hai trăm đi. Hai trăm ngàn! Tổng thu nhập các khoản
đồng lương của trung tá anh dồn cho nó là vừa ngoẻn. Ổn thôi! Này! Em còn nhớ cái cậu
Lãm người Hà Nội ở đơn vị anh mà đã có lần anh kể cho em nghe không nhỉ?
- Cho em nói nốt – Chị vợ cười héo hắt – Ở anh, không có chuyện gì khác ngoài chuyện
đơn vị mỗi bận về nhà nữa hay sao?… Ổn? Anh thì lúc nào cũng ổn! Thế chỉ còn một trăm
năm mươi ngàn tổng thu nhập thì cái đồng lương thiếu tá của em, hai vợ chồng ăn đủ
chắc?
- Ờ nhỉ? – Mặt anh đuột ra nhưng liền sau đó lại cười ngay – Đủ chứ. Cứ sống như kiểu
lính rừng ngày xưa mình sống là đủ. Thôi thì anh quyết định như thế này nhé! – Nam đứng
dậy, thân hình cao to phải tới thước tám, chút nữa chạm đầu cái cộp vào thành cửa đang hở
hoác ra những mảng gạch pa-panh xốp xộp – Từ ngày mai anh sẽ tình nguyện bỏ bữa
sáng. Hồi trước sáng có ăn gì đâu mà vẫn sải chân hành quân như ngựa chiến. Vả lại, ăn
vào đạp xe chỉ tổ xóc bụng. Thứ hai, anh cũng xin bỏ thuốc lá luôn, dù là thứ thuốc cuốn,
thuốc rẻ tiền nhất. Thèm quá, nếu em không chê, anh sẽ sắm cái điếu cày, thỉnh thoảng hút
một hơi cho say đứ đự, thế là xong, khỏe người, lại tránh được bệnh ung thư. Thứ ba –
Giọng anh vẫn đều đều, rành rẽ như đang lên khoa mục trước hàng quân – Nhân đà này, ta
cắt béng luôn cái khoản trà đi, nhỉ? Nước trắng uống càng nhuận tràng, ngày xưa mình có
trà lá gì đâu mà đầu óc vẫn tỉnh táo đấy thôi. Thứ tư…
- Thôi, mình ơi!…
Chị nghẹn giọng kêu lên rồi vội quay đi, đưa nhanh chiếc khăn mặt lên miệng. Mỗi tiếng
nói vô tình kia lại như một lát dao cứa ngọt vào lòng chị. Là người đàn bà trong nhà, chị
bỗng cảm thấy mình có tội khi để người đàn ông thân yêu đã có chiều mệt mỏi kia phải lẩn
mẩn tính từng cắc từng hào.
- Tất cả dành cho con – Anh nói tiếp, vẫn vô tình – Đừng bắt nó sáng nào cũng phải nhá
cơm rang hay cơm nguội, khô chết! Mua xôi cho nó, thứ xôi xéo nó vẫn thích ấy. Rồi đến
trường cũng phải có vài trăm uống nước, đỡ tủi với chúng bạn.
Chị lặng nhìn bé Niên Thảo đang nằm thiêm thiếp trong màn, hơi thở đứt quãng, đôi
môi đỏ chon chót thi thoảng lại nhai cái gì chóp chép trong mơ. Tội nghiệp mấy hôm nay
chuyển trời, cứ đến chiều là đầu nó lại hâm hấp sốt, ăn cơm xong, học quấy quá được mươi
phút, bỏ cả chương trình “Bông hoa nhỏ” trên ti vi nhà hàng xóm, đã trèo lên giường nằm
luôn. Chị khẽ thở dài. Cùng tuổi này mà sao nước da nó xanh quá! Đã cố lắm một tuần cũng
không lo đủ vài ba quả trứng vịt lộn cho con…
- Dạo này chuyển học trường xa, toàn cuốc bộ trông nó rạc rài ra – Chị nói – Cả nhà lại
chỉ có độc chiếc xe đạp! Hay là thôi quách cái lớp chuyên toán ấy đi, có giỏi sau này cũng
chẳng ích lợi gì, xin cho nó trở về trường gần nhà.
- Bậy nào! – Anh gừ gừ trong cổ – Dù chết đói cũng không thể bỏ cái lớp chuyên ấy.
Toàn bộ tương lai của nó ở đấy. Mà bốn, năm cây số có gì là xa? Đi bộ cũng là một thứ rèn
thể lực. Anh đây này, nhờ mỗi ngày đạp xe trên ba mươi cây số mà…
- Mà mới có ba mươi tám tuổi, mặt mày đã hốc hác như ông lão sáu mươi chứ gì – Chị
nguýt nhẹ – Người đâu mà dễ dãi quá thể? Kỹ sư giỏi, cống hiến nhiều, huân chương, bằng
khen chất đầy hộc tủ mà… thế nào cũng xong, làm sao cũng được!
Anh cười khà khà rồi tháo bỏ quần áo dài, để lộ những thớ thịt săn rắn ở vai, ở ngực,
bụng, đùi và ngồi vào bàn. Tấm lưng đàn ông vâm vam và mùi thuốc lá khen khét của một
tối mùa đông trong căn phòng gió lạnh đang rin rít thổi qua kẽ ngói đã làm cho đôi mắt
khắc khoải nơi người vợ thoáng ấm lại…
Trước mắt anh là bản vẽ một công trình phụ hiện đại còn dang dở. Đáng lẽ chỉ tối nay là
anh sẽ hoàn tất nó để sáng mai lấy được hơn một trăm ngàn tiền phần trăm thiết kế nhưng
hình ảnh cái tay hạ sĩ đã ra quân vừa gặp lại chiều nay trên mặt cầu không hiểu sao cứ lởn
vởn trong đầu khiến anh chẳng thể tập trung được vào một công việc gì cụ thể. Ừ, tại sao
hôm ấy hắn lại nổi nóng với mình nhỉ? Trước buổi ra quân, anh chỉ thay mặt ban chỉ huy
trung đoàn khuyên hắn hãy nên tĩnh trí một chút trong quan hệ cha con, yêu đương, vợ
chồng. Bản thân cái anh lính giải ngũ trở về đã không có công ăn việc làm, nay lại đèo bòng
thêm một ả giang hồ hay một cái gì đó gần gần như thế nữa thì liệu có ổn không? Có ổn
không, mình chỉ thực lòng gợi ý vậy thôi, mà hắn bỗng đứng nghiêm, mặt lạnh như chì:
“Thưa đồng chí trung đoàn trưởng! Ba năm qua tôi đã được nghe đồng chí nhiều, còn bây
giờ, tôi xin phép được tập sống cho riêng tôi, sống đúng tôi, mất tôi chịu, được tôi nhờ. Hơn
nữa, chuyện tình cảm riêng tư, lấy ai, yêu ai, theo chỗ tôi được biết, nó không nằm trong
điều lệnh quân đội và cũng không nằm trong điều cấm của tư cách công dân. Xin đồng chí
bỏ quá cho.” Lại còn xin bỏ quá cho nữa mới kinh chứ! Rồi hắn rập gót giày chào theo đúng
điều lệnh nhà binh và quay ra luôn. Chà! Chỉ cần một cú chào quyết liệt như thế là mình
biết cậu chàng sẽ không bao giờ còn bén mảng đến cái thế giới quân nhân nhọc nhằn này
nữa. Vậy mà chiều nay lại gặp hắn đi thất thểu trên cầu, hình như cùng đi với cái cô mà hắn
đã dính dáng thì phải. Trông thấy mình, hắn đã đánh mắt đi và mình thật lòng cũng không
tiện hỏi.
- Rồi cuộc đời cậu ta sẽ nổi trôi đến đâu? – Anh nói lầm bầm – Với cái tính khí ấy, một là
sẽ rất thành đạt, hai là sẽ vô cùng vạ vật…
- Anh nói ai vạ vật kia? – Chị ngừng tay thái lá nhân trần, nhìn lên ngơ ngác.
- À, không! Anh đang nghĩ đến cái cậu Lãm ấy. Em có biết không…
Chị lại nhìn xuống. Chao ôi! Mới có mười mấy năm hậu chiến mà anh đã thành một ông
già ưa nói năng lẩm bẩm một mình rồi ư? Ngày xưa đói khổ, ác liệt là thế mà mỗi bận nhìn
anh là mỗi bận cảm thấy anh tươi rói như chạy ra từ hướng mặt trời. Chuyển đống nhân
trần về cạnh chân ghế nơi chồng đang ngồi, chị lặng lẽ cắt thái, để mặc cho cái hơi nóng
khen khét quá đỗi thân thuộc của một thân hình đàn ông tràn trề sinh lực tỏa ra, lan ra, dìu
dịu bao phủ lấy mình. Đối với chị, chị chỉ có anh, trước kia, hiện nay và chắc mãi mãi sau này
cũng thế. Chị yêu anh, cần anh và… thèm anh. Thèm như cái buổi tức tưởi ban đầu, thèm
như những ngày mới cưới, dẫu rằng ăn ở với nhau đã thấm thoắt ngoài chục năm có lẻ. Nói
điều này ra, mấy đứa bạn thân hay cô em đáo để toàn cười, lại còn khoáy sâu vào: “Thế thì
trúng số độc đắc rồi mà Khốt ơi! Thời buổi này người ta chỉ thèm bồ chứ ai lại đi thèm cái
dụng cụ trong nhà được gọi là chồng ấy”. Bực lên, chị luận lại: “Ở đời chỉ cần đạt được hai
cái thèm là thèm làm việc và thèm chồng là đủ cho tất cả rồi”. Lại há há hí hí đến là ghét:
“Bà thèm làm việc à? Có việc đâu mà thèm, hay chỉ là một cách bố thí đồng lương? Còn
chồng? Đẹp trai đấy, to lớn đấy, tốt bụng đấy nhưng thử nhìn lại xem có khác gì cái anh
hình nhân đứng ngoài đồng? Người gì mà hòn đất củ khoai, ai nặn nọt kiểu gì cũng được;
chỉ cần nói một tiếng là có thể về sống cạnh vợ con, sống trong một cơ quan Bộ đàng
hoàng mà lại cứ cười hì hì. Bảo ông ấy cạo trọc đầu đi tu đi bà ơi!” Chị im lặng không nói
nữa. Họ đã nói đúng và nỗi đau của chị một phần nhưng phần khác, họ làm sao có thể biết
rằng, chính vì lẽ ấy mà chị càng yêu anh nhiều hơn. Là vợ, tôi hiểu rằng đấy là một chút kiêu
hãnh của cả một thời trận mạc anh ấy còn giữ lại được chứ chẳng đơn giản là hình nhân
đâu các cô gái ạ!
- Em bảo này!…
Anh giật mình dứt khỏi dòng suy nghĩ nặng nề, cúi xuống bên vợ:
- Có gì phải không em?
- Không… Anh cứ làm đi!
Chị lại cúi xuống. Con mắt anh nhìn chị trong trẻo quá! Giọng nói anh hồn hậu quá, chị
không nỡ, chị chưa thể nói lúc này được.
- Mặc áo vào đi anh! Lạnh đấy, chủ quan rồi có bận lại…
- Kệ anh. Anh quen rồi. Về nhà có mỗi cái sướng là thế này thôi.
Chị lắc đầu cười nhẹ… Nhưng có một điều chị không thể nói ra là anh cũng khôn
nguôi… khao khát chị. Khao khát đến quá quắt. Dường như cái sự khát của anh đã lây lan
sang chị chứ cả như chị thì đâu tới nỗi thế. Hầu như suốt hơn chục năm, trừ những đặc
biệt, những đêm chị vào ca trực, những ngày anh phải đi công tác xa, mà chuyện đi công
tác đối với anh là chuyện cơm bữa; còn lại không có đêm nào là anh không có nhu cầu được
gần vợ, có đêm gần tới… hai, ba lần, lần nào cũng háo hức như lần đầu! Nếu có can gián,
anh lập tức cãi lại: “Buồn cười nhỉ? Người lính chẳng có cái gì của riêng mình, chỉ còn mỗi
cái bệnh THÈM VỢ, căn bệnh quý hóa mà người khác muốn cũng không có được, lại bị tước
mất à? Cho nên, cũng khác với nhiều người, anh sẽ trụ lại ở quân đội đến lúc cuối đời để
được…” Người gì mà toàn triết lý vơ vào nhưng chị đã mặc nhiên chấp nhận như chấp nhận
cái mùi nồng nồng khen khét nặng tới hơn bảy mươi lăm cân đêm đêm phủ nghiến xuống
thân thể mảnh mai của mình để trở thành một sức đè quen thuộc không thể thiếu được.
Buồn cười… Cứ nghĩ đến chuyện này là bỗng dưng chị thấy nóng bừng cả mặt: ai đời có
bạn chiến đấu thân thiết cũ là nhà đạo diễn phim tài liệu Nguyễn Trọng Bình, khi ấy còn
chưa được phân một căn hộ ở gần đây, vừa tu nghiệp chính quy tại nước ngoài về đến chơi
mà ông ấy cũng không tha. Nhà thì chật, trời thì nóng, chiếc quạt tai voi cứ cọt kẹt kêu ở
góc nhà như tiếng ca cẩm của một bà già chết chồng dai nhách; vậy mà chỉ chờ tiếng ngáy
như nhè ruột ra rồi lại nhóp nhép nuốt ruột vào của Bình nằm trên chiếc ghế bố kê ở ngoài
hiên rền lên là… chân tay ông ấy bắt đầu ngọ nguậy! Chao ôi! Bao năm rồi mà tay gì cứ
cứng như thép! Lại còn bắp chân, bắp đùi nữa chứ… “Sao cái bàn tay mình nó lại ưng đi
công tác trên ngực em nhiều nhiều đấy”. Cái giọng lơ lớ giả tiếng dân tộc một thời trên
Trường Sơn của anh đã khiến chị lịm đi, muốn quằn mình rên lên nếu không có tiếng ụ ợ
của bé Niên Thảo nằm bên cạnh. Đến ngày thứ ba, nhà đạo diễn bắt đầu cằn nhằn: “Vừa
phải thôi chứ mày, Nam! Đêm nào tao cũng phải giả vờ ngáy đến rát cuống mũi thế này thì
còn ngủ nghê chó gì nữa!”. Đi làm vừa về đến cửa, nghe được câu ấy, chị muốn chui tụt
xuống đất, vậy mà ông chồng còn ngoác miệng ra cười? Nhưng đã thôi cho đâu. Chả biết
anh bạn đêm sau ngủ thật, hay ngủ giả nữa, nửa đêm anh bấm chị chuồn lên sân thượng
mà ở đó, lâu nay chỉ có tiếng mèo động tình kêu hoang đến nẫu ruột, nách cắp chiếc ni
lông chiến trận ngày xưa còn giữ lại được, dấm dúi như hai cái đứa ăn trộm đêm… “Nếu
cuộc sống đừng quá khó khăn như thế này, anh dư sức cho em để đủ hai chục tí nhau,
mười bé lên rừng, mười bé xuống biển…” Anh ồm ồm nói thế và chị chỉ còn biết giụi mặt
vào cái khuôn ngực vạm vỡ, rắn chắc, thoang thoảng mùi xăng dầu, mùi cầu phà, mùi đất
đai cây cỏ của anh.
Nhà bên, tiếng ácmônica đã tắt ngấm từ lâu nhưng cái nét nhạc buồn buồn của nó
dường như vẫn còn văng vẳng đâu đây trên mái ngói.
- Dạo này trộm cắp lảng vảng quanh khu ta nhiều, đi ngủ anh nhớ nhắc em đừng để
ngỏ cửa sổ như mọi khi nhé! Nhà có mỗi chiếc xe đạp, không khéo lại…
- Em đi nghỉ trước đi, khuya rồi. Anh vẽ rốn thêm chi tiết này nữa. Dạo này em hơi gầy,
mắt buồn buồn thế nào ấy? Cũng phải ăn uống cẩn thận một tý, đừng có cái gì cũng
nhường cả cho bố con anh.
Chị dừng tay thái lá, đứng lên, dựa người vào chồng, cúi xuống cắn khe khẽ vào cái bả
vai để trần của anh, cái bả vai mằn mặn… Mùi thảo mộc tinh khiết, thơm ngọt bay lên, quẩn
quanh khắp phòng. Bằng những tín hiệu quen thuộc như thế, anh biết đêm nay chị sẽ nói
với anh một điều gì mà suốt cả tuần nay, đôi mắt rất đẹp của chị đã mơ hồ nói trước. Anh
mỉm cười. Giá lúc này không phải lúc bận tâm vì cái toa-lét cầu kỳ trong bản vẽ kia, giá hình
ảnh bặm trợn và lam lũ của cậu hạ sĩ người Hà Nội mới ra quân ấy không thôi ám ảnh thì có
lẽ, với những chiếc răng cắn như điện giật này, anh đã bế nhẹ chị lên giường rồi. Không,
xuống nền nhà chứ. Từ ngày bé Niên Thảo đã lên lớp hai, chỗ của hai người tự nhiên
chuyển xuống dưới đất, cách cái thiên thần non nớt kia một tấm dù pháo sáng chắn hờ,
cũng là mảnh dù chiến trận hồi nào còn giữ lại được. Tấm dù mà…
Ba
vời! Thậm chí trên… tuyệt vời! Buổi tối yên ả trong một gia đình của một thế kỷ
- Tuyệt
lãng mạn đã quá vãng.
Một giọng nói du dương nửa nam nửa nữ theo kiểu bán băng phiến dạo đột ngột vang
lên ngay tại cửa ra vào. Đó là đạo diễn Trọng Bình kiêm nghề kiến trúc sư có hạng, thương
binh loại bốn trên tám, tóc dài râu rậm, vóc dáng nhỏ con nhưng chuyên nói lời vu quát,
bạn hàng xóm thân thiết của cả hai vợ chồng.
- Mình khóc mất. – Bình nhệch môi khiến hàng râu tua tủa như dây kẽm gai của anh trễ
xuống – giữa thác lũ dòng đời, giữa cuộc làm tình vĩ đại của thứ giả cưỡng dâm thứ thiệt,
giữa nạn hồng thủy trổ tường nới mái ngang ngửa mà vẫn nổi lên một cù lao yên bình thế
này thì… khóc mất!
Thảo đỏ mặt vội vàng rời chồng ra, phì cười:
- Cái anh này! Bao giờ cũng xuất hiện sau lưng người ta rồi lem lẻm chọc ngoáy. Gớm!
Râu với ria, cạo bớt đi ông ạ!
- Cạo là sao? Tất cả hình như đang bị coi là xấu: xấu mã, xấu số, xấu tư tưởng, xấu thói,
xấu đủ chuyện; còn mỗi cái râu cái tóc là tốt nhất mà lại đi cắt đi à? Nào, thử xảy ra một vụ
cưỡng hiếp hay cháy nhà trên đường phố xem, thằng nhẵn nhụi hay thằng râu ria sẽ nhảy
vào? Con gái cưng của tôi đâu? Ngủ khì rồi à? Tội chưa!… Chắc cái thằng bố con mẹ nó đã
bắt bé học quá đây mà.
Anh rón rén đi lại giường cô bé như dáng đi của một vũ sư ba-lê rồi đặt nhẹ vào cạnh
gối nó mấy thỏi sô-cô-la. – Ngủ đi! Ngủ dậy mọi việc sẽ khác. Còn như đời bố nó, chú nó thì
coi như hỏng từ lâu rồi. Ấy, đừng cất! Để cho suốt giấc ngủ của nó đều thoang thoảng mùi
no ấm thơm tho. Nhỉ? Con gái xinh nhỉ?
Thảo tự dưng thấy sống mũi mình cay cay. Hết chiến tranh từ lâu rồi nhưng chị vẫn
không bỏ được cái tính hay mủi lòng trước một câu nói ủy mị, một tình cảm chân thành của
người khác, nhất là khi cái tình cảm đó lại hướng về đứa con bé bỏng, cái kỷ vật thiêng liêng
nhất của hai vợ chồng.
- Bữa nay bác Bình sang chơi, không may nhà hết mất trà – Chị kín đáo liếc nhìn chồng
rồi bối rối rót từ ấm tích ra đưa cho anh một cốc nước đen đặc – Bác uống tạm!
- Nhân trần à? Tuyệt vời! Thậm chí… trên tuyệt vời! Chồng ngồi vẽ hố xí cho bọn trọc
phú mới, vợ thái lá nhân trần cho bọn đầy bụng hiện đại, cõi đời xem ra nhiều phần lý thú!
Anh uống
 





