Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - bước ngoặt lịch sử vĩ đại
Dấu chân người lính / Nguyễn Minh Châu

- 0 / 0
Nguồn: https://sachmoi.net/download/dau-chan-nguoi-linh#gsc.tab=0
Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 16h:35' 18-12-2025
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 16h:35' 18-12-2025
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
NXB Văn học 2004
Số trang: 514 trang
Thực hiện ebook: hoi_ls
Xong ngày: 03/06/2007.
"HỄ CÒN MỘT TÊN XÂM LƯỢC TRÊN ĐẤT NƯỚC TA THÌ TA
CÒN PHẢI TIẾP TỤC CHIẾN ĐẤU QUÉT SẠCH NÓ ĐI."
HỒ CHÍ MINH
PHẦN I:
HÀNH QUÂN
CHƯƠNG 1
Nơi đây khi đang mùa thu hãy còn là một cánh rừng già im lìm
như ngủ. Lúc bấy giờ những người chiến sĩ bộ binh và cả những
người chiến sĩ trinh sát dày dạn và ưa hoạt động nhất của cấp trung
đoàn hoặc sư đoàn hãy còn ở tuyến hậu phương. Suốt cả một dải
rừng núi âm u rậm rạp, thỉnh thoảng mới thấy sáng bừng lên vài
bông hoa chuối rừng đỏ nở trên những thân cây gầy khẳng. Tiếp
giáp với bìa rừng là bãi lau hoang vu rồi lại một cánh rừng khác, một
bãi lau khác ăn thẳng ra con đường số 9 rải sỏi dẫn tới một thị trấn
và ngoại vi khu đồn địch. Suốt cả mùa thu, ở đây còn hết sức yên
tĩnh. Trên mặt đất khô ráo đang đón đợi mùa mưa ngàn tới, chỉ có
bước chân những đàn voi đi thủng thỉnh xéo nát từng bãi tranh, và
báo trước cho chiến dịch sắp mở là bước chân không để lại chút
dấu tích của những người lính trinh sát Bộ Tư lệnh chiến dịch và
bọn thám báo Mỹ giậm đè lên nhau.
Khuê, chiến sĩ cần vụ của chính ủy trung đoàn 5 đã tùng sống
trên mảnh đất này suốt từ trận đánh mở màn chiến dịch. Nhưng anh
không khỏi bỡ ngỡ mỗi khi có dịp rời khỏi hầm sở chỉ huy, đi trở lại
khu rừng trú quân hồi trung đoàn mới từ giã trạm giao liên cuối cùng
tận ngoài bờ sông Xê Pôn. Thế là sau một loạt trận đánh, địch đã dự
đoán được đôi chút hướng xuất kích của những đơn vị chiến đấu
lớn của chúng ta. Chúng rải thuốc độc hóa học và dùng máy bay
B.52 rải bom theo lối "rải thảm". Chỉ có trong vòng nửa tháng, từ khi
tiếng súng đầu tiên của ta nổ vào giữa thị trấn, các cánh rừng chung
quanh đã quang đi từng vạt, từng vạt cỏ tranh bị thiêu cháy, ở các
chân lèn đá và dọc khe suối đã bị phát quang, máy bay trinh sát các
loại lượn đi lượn lại thăm dò suốt ngày đêm. Ban đêm tùng chùm
pháo sáng liên tiếp treo lơ lửng trong bầu sương thăm thẳm trắng
rừng trắng núi. Mặc cho máy bay địch trinh sát và bắn phá, dưới mặt
đất bộ đội vẫn chen chân nhau đi đông nghìn nghịt. Họ tranh thủ đi
nhanh hơn, nhận mặt nhau, chào hỏi nhau. Con đường cứ hình
thành dần những khu vực tọa độ của địch (Khu vực toạ độ: Khu vực
mà máy bay địch đã tính sẵn trên bản đồ từng quãng thời gian nhất
định bay qua ném bom một lần). Trên chặng đường đầy cây cối đổ
nghiêng, khói bom khét lẹt và đất đỏ lật lên lấp hết cây cối, tùng đơn
vị cứ đi qua, hết đơn vị này đến đơn vị khác, hết binh chủng này đến
binh chủng khác. Ban ngày có những khi máy bay trinh sát không
làm nhiệm vụ chỉ điểm cho máy bay phóng pháo, với đôi cánh bằng
gỗ dán, nó liệng từng vòng tròn rất hẹp trên từng chỏm cây một. Từ
bên thành cửa sổ trống hoác như con mắt mù thò ra một chiếc loa
phóng thanh và một giọng nói õng ẹo: Các anh bộ đôi Việt Công
dũng cảm! Đây là tiếng nói của người em gái mến thương của các
anh. Các anh hãy suy nghĩ mau mau trở về với người em gái mến
thương và Chính phủ quốc gia. Các anh sẽ được trọng dụng và
chiều chuộng. Em đang trông thấy các anh...
Dưới từng gốc cây, lính nhà ta vẫn thản nhiên ôm nhau ngủ,
thảng hoặc mới có anh chàng đang ngáy như sấm bỗng trở mình,
không thèm mở mắt cáu tiết văng tục: "Trông thấy cái . . . mẹ mày ! "
Không phải bây giờ mà từ đầu mùa xuân năm ngoái, Khuê đã
quá quen thuộc với khung cảnh này. Khuê đã quen với khu rừng
suốt ngày đêm dội vang những trận bom hất tung từng đám rễ cây
và đất đá, những cuộc chuyển quân trong tầm súng của địch, những
con đường tiềm nhập ở vị trí tập kết quân bị địch phát quang. Anh
đã quen với những trận bom B.52 như dựng lửa, với khung cảnh bề
bộn tạm bợ của chiến rường, với cả mùa mưa dai dẳng xô rừng
ngập suối của rùng miền Tây vốn từ bao đời còn âm u và hoang dại.
Chính khung cảnh của chiến trường như thế, trước đây vài tháng,
khi anh còn mài gót giày trên những chặng đường đi dài dằng dặc
của núi Trường Sơn, anh như đã trông thấy, hình như nó đang vẫy
gọi, đang giục giã anh và đồng đội của anh bằng tất cả sức mạnh
quyến rũ không thể nào lường được.
Ngày trung đoàn mới xuất quân từ hậu phương, Khuê là một tiểu
đội tưởng xuất sắc của đại đội trinh sát. Trên đường giao liên, ở một
chặng nào đó, đại đội trinh sát gặp u bộ (bí danh chỉ trung đoàn bộ)
giữa lòng dốc, đang ngồi nghỉ. Một đám người lố nhố bên rìa cỏ, anh
nào anh nấy mặt mũi trắng trẻo, mồ hôi ướt đầm đìa suốt dọc lưng
áo thấm sang cả ba lô cóc, túi tài liệu lớn, túi tài liệu bé xếp dọc lối
đi. Một anh phụ trách quân lực mặc quần đùi áo lót, khuôn mặt còn
trẻ mà đã hói lên tận đỉnh đầu, anh ta ngồi doạng chân trước chiếc
ba lô cóc to kềnh càng để quấy sữa bột, chợt trông thấy cái dáng
nhỏ bé và nhanh như sóc của Khuê vác súng tiểu liên đi vụt qua liền
cất tiếng gọi ầm ĩ cả rừng:
– Khuê ơi , về u bộ đi chứ!
Hai đồng chí cấp dưỡng vây quanh bởi đống nồi niêu xoong chảo
cũng góp vào một câu:
– Chúng tớ cũng thổi cơm rồi, vắt cơm có thịt rang hẳn hoi.
Chúng tớ phải mang đi theo cho cậu đây này!
– Các cậu vắt thì các cậu cứ việc ăn! Khuê vốn là con người vui
vẻ nhưng lúc đó anh lại đã gắt với hai đồng chí cấp dưỡng trung
đoàn bộ lành như đất.
Ở bãi khách kề trạm giao liên trung đoàn vừa qua, Khuê đã
khoác ba lô tới trung đoàn bộ một lần, sau khi anh nhận được một
tờ giấy đánh máy từ quân lực trung đoàn gửi xuống, điều động anh
rời đại đội trinh sát về giúp việc cho chính ủy Kinh. Hôm đó, Khuê
đến vào sau giờ ăn cơm, bãi khách trung đoàn bộ đóng im lặng như
không có một đoàn quân nào đang trú. Những chiếc võng bạt mắc
đan nhau từ gốc cây này sang gốc cây khác, trên mỗi đầu võng treo
lủng củng nào là xắc cốt, bi đông nước, dao rừng, súng đạn. Loáng
thoáng sau hàng cây một vài mái đầu đang cúi xuống hí hoáy viết,
và ngoài xa không biết từ một bãi khách nào khác vang tới tiếng dao
chặt trên thớt lách cách, tiếng động vang dội vào tận lèn đá. Khuê đi
quanh quẩn, anh tới bên một cái võng mắc thõng sát đất và vặn vẹo
như một cái vỏ đỗ, bên trong một người nằm đó và vẫn còn thức,
cặp mắt đang ngước lên nhìn cái kẽ xanh giữa vòm lá, một vết sẹo
dài như một nhát dao chém ngang đuôi lông mày.
– Cậu ơi thủ trưởng Kinh ở đâu nhỉ?
– Mình đây, mình là Kinh đây!
– Báo cáo thủ trưởng...
Chính ủy Kinh cất tập giấy đánh máy dày gần bằng quyển sách
vào trong một chiếc túi vải hoa, khoác túi lên vai rồi kéo Khuê đến
bên một cái túp sàn ken bằng thân những cây sậy giập vỡ, đó là
chiếc lán cỏ tranh duy nhất của cả khu vực bãi khách.
– Ô…ông lên có việc chi mà khoác ba lô nặng đến thế vậy?
Câu nói của Kinh đầy tiếng địa phương, rất nặng. Ông mặc bộ
quần áo vải nâu, vóc cao lớn, tóc húi ngắn và đã bạc ít nhiều, con
mắt bên trái bị thương hơi trắng đục luôn luôn như có một ánh giễu
cợt người đang đứng trước mặt mình. Khuê ngắm ông, chợt nhớ
ngày anh mới về đại đội trinh sát, còn đóng quân ở một làng mạn
trung du, Khuê dẫn một đàn bò gần chục con của đại đội đi chăn ở
mé đồi hoang. Thả cho bò đi ăn rong vừa xong là Khuê gục vào đọc
"Ruồi trâu” không còn biết ngẩng đầu lên nữa, cho đến lúc nghe
tiếng la khản giọng từ một xóm ở bên kia cánh đồng, anh mới ngừng
đọc. Lúc bấy giờ, Khuê mới biết bò của mình đang gặm lúa của dân,
từ dưới chân đồi một người nông dân mặc chiếc áo quân phục đã
bạc trắng đang lùa bò lên. Khuê vất sách vội vàng chạy đến xin lỗi.
Anh tưởng người đó là một người nông dân trong làng nên đề nghị
được đền số lúa những con bò đã ăn mất. Người đó cười với anh
bằng con mắt chế giễu, và liền bỏ đi sau khi nói: "Lần sau đồng chí
nhớ đừng để cho bò gặm lúa của dân, nhớ nhé!". Về sau Khuê mới
biết người nông dân đó chính là chính ủy của trung đoàn mình.
Khuê xốc chiếc ba lô và trang bị quân dụng nặng gần bốn chục
cân trên lưng. Anh giập gót đứng thẳng rồi móc túi lấy tờ giấy đánh
máy "Quyết định thuyên chuyển":
– Báo cáo thủ trưởng, tôi là Khuê ở đại đội trinh sát.
Kinh khoát tay rất rộng vỗ vai Khuê:
– A... ông đặt ba lô xuống, ngồi đây chúng mình nói chuyện. Biết
hút thuốc lá không nào?
– Có ạ !
– Ông hút thuốc lá, mình hút thuốc lào. Chúng ta nói chuyện làm
quen với nhau đi nào, lên đây ở với mình có thắc mắc gì không?
Khuê nhận ngay thấy nếu mình nói thật với con người này cũng
chẳng có tội vạ gì cả.
– Báo cáo thủ trưởng...
– Thế nào, có gì cứ nói...
– Tính tôi hay nghịch lắm, sợ nhận công tác phục vụ thủ trưởng
không chu đáo.
– Thì tôi cũng nghịch! - Kinh đáp một cách hăng hái.
– Và thưa thủ trưởng, thú thật tôi đi chiến đấu chỉ muốn được ra
ngoài chiến hào.
– Thì tôi cũng ra chiến hào!
Tuy đã nổi tiếng là "cây nói" ở đại đội trinh sát, Khuê cũng không
còn biết làm thế nào trước cái cách đối đáp của Kinh. Anh đành
đứng im lặng.
Lát sau, Kinh nói tiếp với Khuê như nói với một người ngang
hàng:
– Nếu ông ở gần, ông sẽ hiểu tôi hơn. Nhưng tôi cũng không nài
ép ông.
Chính ủy cho phép Khuê được trở về vừa hành quân vừa suy
nghĩ, hẹn sau hai chặng đường giao liên sẽ lên trả lời.
Khuê lại trở về hành quân cùng đại đội trinh sát. Nhưng ngay hai
hôm sau, anh đã khoác ba lô tới chính thức nhận nhiệm vụ ở trung
đoàn bộ. Trong những ngày trung đoàn sắp bước vào chiến đấu,
Khuê không muốn về cơ quan một chút nào nhưng anh biết mình
không thể từ chối nhiệm vụ mới. Vì anh biết đó là quyết định của cấp
trên.
***
Đã sang những ngày mưa dầm và rét. Mùa xuân sắp đến. Bầu
trời trên các chỏm rừng suốt ngày mù mịt mưa sương. Các con
đường mòn chạy xuyên qua Trường Sơn bao giờ cũng lõng bõng
một lớp bùn nhão đầy vết giày in chi chít ngang dọc. Các ngả đường
ngập những lính, đâu đâu trong rừng cũng sực lên hơi người, đâu
đâu cũng gặp những bếp than cháy dở, những cái túp cỏn con kề
bên suối bên trong ba hòn đá vực dưới suối lên đã cháy đen thui.
Bất cứ một người nào đi trên con đường này cũng phải tự hỏi: Ai là
người đầu tiên tới đây dựng lên cái bếp lửa sơ sài bên con đường
rừng? Bàn tay người lính nào đã dùng mìn bẫy đã cầm dao phát
cây? Và người cán bộ tham mưu nào đã từng mang một chiếc địa
bàn và một bản đồ, đứng chon von trên đỉnh núi để ngắm hướng
cho việc mở đường? Con đường nào sẽ là con đường thẳng nhất, ít
gặp núi cao vực sâu nhất? Con đường giao liên bắt đầu chỉ hẹp như
lối đi của người địa phương mở lên rẫy, đầy những mối vỡ tổ hăng
mùi nhựa cây và thỉnh thoảng còn thấy in những vết chân hổ giống
như những con dấu của rừng hoang, những con hổ đêm đêm vượt
qua đường để tìm mồi. Chính ủy Kinh là một trong những người đã
từng đặt bàn chân lên con đường này từ những ngày mới khai phá
đó. Ngày đó Kinh là một cán bộ tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính
trị. Ông có nhiệm vụ vào thấu một vùng chiến trường nằm khá sâu
để truyền đạt nhiệm vụ và chủ trương vũ trang của Đảng. Ngày đó ở
quê, vợ Kinh chưa đẻ đứa con thứ năm và ở đây, lối đi vừa mở
chưa có nhiều bàn chân giậm lên để in thành một con đường mòn
hẳn hoi như bây giờ. Kinh còn nhớ ngày đó đường rất vắng, thỉnh
thoảng mới gặp một đoàn đi. Các con suối còn mọc đầy rêu, chưa
có những cái bếp dựng lên rải rác. Và trong các khu rừng, những
căn nhà của trạm giao liên cũng chưa thật là chật chội phải chen
chúc, nhân viên của trạm chưa phải bận tíu tít lên vì công việc đón
tiếp. Ngày đó cũng chưa phát quang mặt đất từng khu vực rộng để
thiết lập các bãi khách đủ chỗ cho hàng tiểu đoàn mắc võng.
Đoàn đi của Kinh có chưa đầy một chục người, do Kinh làm tiểu
đội trưởng kiêm tổ trưởng Đảng. Lượng, đại đội trưởng đại đội trinh
sát của trung đoàn 5 bây giờ cũng có mặt trong số những người
cùng đi với Kinh năm đó. Năm đó Lượng mới hăm ba tuổi nhưng
vào bộ đội đã lâu. Lượng là một chiến sĩ hết sức tháo vát vì trong
cuộc đời Lượng phải lo tự lập thân từ hồi còn nhỏ. Chuyến đi cũng
vào một mùa đông. Đêm nào Lượng cũng nhóm lửa cho cả đoàn.
Một ngọn lửa cháy sáng, những chiếc võng mắc chung đầu với nhau
trên những thân cây xung quanh bếp. Từng người nằm nghiêng trên
võng, tay bóp chân để ngày mai đi chặng tiếp, mặt hướng về phía
ngọn lửa ở giữa mà nói chuyện hoặc nghe đài. Cứ tầm nửa đêm khi
mọi người đều ngủ cả, thỉnh thoảng Lượng lại trở dậy, thò chân vào
dép đi lẹp kẹp tới quẳng thêm củi vào cho ngọn lửa luôn luôn cháy
sáng để xua hổ. Lượng rất ham được nghe Kinh kể những trận đánh
hồi kháng chiến chống Pháp, những cuộc hành quân, những trận
Kinh một mình chiến đấu giữa vòng vây giặc. Lượng hiền và ít nói,
hơi khó tính, cách sống như một người đã đứng tuổi. Kinh coi
Lượng như một đứa con hay em. Ngược lại Lượng rất kính trọng và
yêu mến Kinh, mặc dầu cái tính chểnh mảng và hay quên của Kinh
dọc đường cũng khiến cho Lượng đôi lúc phải khó chịu.
Đoàn đi gần tới đích vào những ngày mưa dai dẳng đến nỗi ba
bốn ngày không sao đặt ba lô xuống chỗ nào mà thổi cơm được.
Đến chặng nghỉ, tùng người cứ khoác chiếc ba lô như một cái bướu
mọc sau lưng mà nhai gạo rang rồi lại tiếp tục đi. Gạo rang trộn
đường đựng trong túi ny lông của từng người cũng sắp cạn, đó là
khẩu phần "sẵn sàng chiến đấu” đáng lý không được đụng tới.
Nhưng tìm cái gì để ăn thay?
Lượng bàn:
– Anh Kinh ạ, ta sẽ khắc phục để thổi cơm.
Kinh vuốt nước mưa chảy ròng ròng trên mặt:
– Ông thổi được cơm giữa lúc này thì chả thua gì cái cô nào đó
vừa chăn cóc, vừa ăn mía, vừa ngồi trên thuyền thổi cơm thi ngày
xưa!
– Được! Tôi sẽ khắc phục thổi cơm. Anh cho anh em tìm chỗ mắc
võng ngủ đi, và đồng chí nào vác mấy bao gạo ướt ra đây cho tôi.
Lượng cởi ba lô. Anh rút dao đi men bờ suối, lát sau đã đội về
những bó lá và hai ba tấm phên kết bằng lá mây và lá dong rừng.
Một cái túp mái uốn cong chỉ cao đến bụng được dựng lên bên bờ
suối. Anh nhảy xuống giữa lòng suối khuân ba hòn đá bằng nhau rồi
dùng xẻng xén đi một lượt cỏ ướt, lại hớt đi một lớp đất dày bên
trên. Đất rừng giữa mùa mưa nhưng trong lòng vẫn khô ráo. Chỉ
trong một tiếng đồng hồ sau, một ngọn lửa đã bùng lên bên trong cái
túp bằng lá hãy còn xanh biếc, một cuộn khói ấm áp lách qua kẽ lá
bay thoát ra ngoài. Lượng đánh đường thoát nước chung quanh cái
túp rồi ngẩng lên, cất tiếng gọi vui vẻ:
– Anh Kinh và các anh ơi, nửa tiếng nữa sẽ có cơm nóng nhé, cứ
ngủ đi!
Trong những ngày mùa đông, cái khó của tất cả mọi người là làm
sao gây cho được ngọn lửa. Rừng mưa ướt đầm đìa hằng tháng
trời. Ai đã tùng sống qua một mùa mưa trên Trường Sơn hẳn biết.
Lá cây bao giờ cũng cụp xuống và ướt loáng. Thân cây đầy rêu. Đá
trơn tuột. Mái lán không bao giờ ngớt cái âm điệu lộp độp của mưa
rơi nghe váng óc như có người cầm gậy xăm trên đầu. Ngọn lửa
nhen mãi vẫn không bén, chỉ khói mù. Lại chổng mông thổi. Ba hòn
đá con con nước đã ngập đến lưng. Ngọn khói lan trên nóc lán rồi
bám chặt lấy các vòm cây ướt át, đọng lại ở đó mãi. Tiếng máy bay
ỳ ầm. Tiếng ve. Tiếng suối lũ. Con chim gì đó kêu tút tút không hề
biết mỏi. Giữa những ngày mưa dầm dề như thế, rừng Trường Sơn
ban đêm càng lạnh lẽo. Bao nhiêu người bốn phương quen biết
nhau và chưa hề quen biết nhau cùng đến ngồi bên nhau trong bóng
tối. Bên ngoài căn nhà trạm giao liên dành cho khách đi đường,
tiếng mưa đổ ào ào và tiếng ve mùa đông kêu như có ai đem cạo
tinh nứa ở đầu giường. Chiếc đài nói oang oang từ trong lòng một
người nào đó tố cáo Mỹ vừa đưa hàng vạn quân vào miền Nam.
Những người khách đi đường tìm củi để nhen lửa sưởi với nhau.
Nhưng lần mò hì hục hằng tiếng đồng hồ lửa vẫn không cháy. Mọi
người đã nản. Thì vào giữa lúc mọi người sắp đi nằm, ngọn lửa
nhen từ một bàn tay cần mẫn nào đó cháy lan dần, ban đầu còn le
lói, chẳng mấy chốc đã bùng dậy rắc ánh sáng lên khắp gian nhà.
Lửa cháy phần phật như một lá cờ vừa mở, bắt hơi nóng lên bằng
chừng ấy khuôn mặt và bàn tay. Giữa nhiều bàn tay mở xòe chìa về
phía ngọn lửa, bàn tay của người vừa nhen lửa cũng chìa ra lẫn
trong những bàn tay người khác. Câu chuyện vui bắt đầu nở. Tiếng
cười phá lên. Rồi những người đi đường tới muộn lọc cọc chống
gậy đến. Những người đang ngủ choàng thức giấc cũng tung chăn
tới ngồi lẫn giữa vòng người chung quanh bếp.
Liên khu X..., sau ngày đoàn Kinh đi công tác tới đó đã nhất loạt
trỗi lên một phong trào tự võ trang và đồng khởi hết sức mạnh mẽ.
Đế quốc Mỹ và tay sai tưởng có thể dập tắt được ngọn lửa cách
mạng nhưng từ trong bóng tối, ngọn lửa đã được Đảng nhen nhóm
dậy. Những người đảng viên và những quần chúng của Đảng ở các
cơ sở làng xã đã đứng dậy tổ chức cuộc chiến đấu của họ. Từ trong
vũng máu, ngọn lửa mở đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ đã được
nhen dậy bởi bàn tay những con người bình thường và trung kiên
nhất.
***
Chuyến đi công tác, nửa năm sau Kinh mới quay trở ra. Trên
chặng đường đi vào và lúc ra về, đoàn vẫn nguyên vẹn. Nhưng đến
một chặng cuối cùng bên con đường số 9, lúc đã sắp về đến căn cứ
hậu phương thì thình lình địch đổ quân xuống con đường đi. Một
buổi sáng, những chiếc trực thăng sơn màu kẽm, bụng phình to như
những con cá lóc chửa bay rùng rùng từ phía Đông Nam lên. Một
chiếc trực thăng chở một trung đội lính Mỹ, có ba cánh quạt Cánh
quạt trực thăng quay tít khiến lá tranh đổ ngả rạp. Lượng nằm ngửa,
gió quạt thốc vạt áo trùm kín cả đầu cả mặt. Anh nhổm dậy, gió xô
ngã. Lại ngồi dậy. Anh quỳ lom khom để ngó chúng. Bỗng Lượng
thấy ngọn lửa chớp nhoàng một cái trước mặt: Bọn chúng bắn dọn
bãi rồi!
– Anh Kinh ơi, cho tôi bắn trực thăng nhé! - Lượng hét to át cả
tiếng hai mươi ly nổ chung quanh.
Kinh phán đoán: Tụi thám báo mặt đất đã phát hiện được đoàn
của mình nhưng chúng vẫn còn gờm không dám nổ súng nên phải
gọi trực thăng đến chụp bắt.
Kinh không do dự, liền hạ lệnh cho bắn.
– Ngon xơi quá! - Lượng reo lên.
Bọn địch láo nháo xúm quanh một cái thành cửa sổ, đang thả
đạn cối xuống. Lượng kề súng vào vai xiết cò lia trọn một băng hạ
ngay chiếc trực thăng đầu tiên. Cuộc chiến đã bắt đầu. Bọn chúng
có đến một đại đội. Bên ta, chín người của một đoàn đi công tác
được chia thành ba tổ chiến đấu.
Kinh hạ lệnh cho đoàn phó nắm hai tổ. Đại bộ phận vừa mở
đường rút về phía dãy núi đá cách đấy độ hơn năm trăm thước.
Kinh trực tiếp nắm một tổ trong đó có Lượng, ở lại yểm hộ cho anh
em rút. Lượng cùng một chiến sĩ và đoàn trưởng Kinh, ba người
chiếm một cái gò đất giữa bãi tranh. Những cây mù u mọc chung
quanh gò bị đẵn từ khi nào không biết chỉ còn trơ những cái gốc.
Lượng cởi chiếc áo bị cháy trải xuống bên một gốc mù u. Anh trịnh
trọng bày lên một hàng lựu đạn Mỹ vừa cướp được, lẫn với những
quả lựu đạn chuôi dài của ta:
– Anh Kinh ơi, những quả lựu đạn Mỹ này sử dụng thế nào nhỉ?
– Cậu tháo khuy ra nhưng tay cứ phải nắm chặt cái mỏ vịt. Thế,
cứ vứt ra tự khắc nó nổ!
– Tiên sư cái thằng Mỹ này, quả lựu đạn giết người của nó cũng
"văn minh" và tiện lợi gớm!
Tàn tro trộn lẫn mồ hôi chảy ròng ròng trên trán, trong hai hố mắt,
trên ngực Lượng. Chung quanh cái gò đất, nắng và lửa cháy, cùng
với tàn tranh bay đen trời. Xác những tên Mỹ nằm co quắp khắp nơi.
Ngay trước mặt Kinh, bên kia gốc cây, ba bốn thằng chết nằm ngửa
tênh hênh. Nắng như giội xuống những khuôn mặt chúng. Bấy giờ,
cối và đại liên lại nổ ầm ầm vào chân gò. Kinh bế đồng chí chiến sĩ
đã bị thương nặng vào giấu sau một bụi cây, mắt vẫn nhìn về phía
trước:
– Này Lượng!
– Có tôi
– Nghe đây. Đợt này nhất định chúng sẽ kéo lên rất đông. Cậu có
nghe được tôi nói không?
– Bây giờ cậu để tất cả lựu đạn lại cho tôi... Anh em đằng sau đã
rút xong. Cậu hãy lui ra sau dùng tiểu liên yểm hộ cho tôi, và cõng
thương binh về...
Lượng hiểu ý định người chi huy.
– Tôi phải là người rút sau cùng - Lượng trả lời kiên quyết
– Anh là đoàn trưởng, anh phải rút về trước đi, anh Kinh!
Quân Mỹ tiếp tục xô vào. Ngay hai loạt tiểu liên đầu tiên, hai
người đã quật ngã hai tên hăng hái chạy trước. Tất cả chùn lại.
Nhưng một quả đạn cối bỗng nổ tung đất đá và tàn tro vọt lên. Kinh
bật lên một tiếng chửi, một nửa khuôn mặt Kinh tự nhiên tê dại đi.
Lượng bồi thêm một chùm đạn vào đám quân Mỹ đang nằm bẹp sau
các xác chết rồi chạy vội về phía Kinh. Anh thấy hố mắt trái của Kinh
như tụt sâu xuống. Một dòng máu từ bên trong cái hố mắt rỏ thành
giọt lăn qua vành má lấm đầy bụi tro xuống cằm. Khoảng túi áo
ngực và cả báng súng Kinh đang cầm tay cũng đọng những vết máu
lẫn với tàn tro.
Kinh ngồi bệt giữa đất cho Lượng quấn vòng băng cá nhân trùm
kín đầu. Kinh dặn Lượng cách vừa đánh vừa rút. Kinh đã bị choáng
nhưng vẫn còn khỏe lắm. Ông cúi xuống xốc đồng chí bị thương lên
lưng, bước từng bước chắc chắn và chậm chạp về phía sau, thỉnh
thoảng dừng lại kẹp súng vào nách bắn yểm hộ cho Lượng.
Cuộc chiến đấu tiếp theo dưới chân lèn đá, bọn chúng bỏ xác lại
từng đống. Năm giờ chiều, quân Mỹ thu dọn chiến rường một cách
máy móc và đúng thời giờ như những người thợ làm xong một buổi
trong xưởng máy. Ngồi trên vách núi đá, Kinh nhìn ra khoảng gò bãi
tranh, con mắt trái đau nhức nhối. Bọn địch bắt đầu kéo xác ra
đường cái ngồi hút thuốc lá, ăn kẹo, chờ trực thăng tới đón. Thật
tiếc ! Tất cả các khẩu súng của Kinh và của anh em trong đoàn đều
hết đạn, lựu đạn cũng hết nhẵn, mỗi người chỉ còn có một con dao
găm dùng để phát cây. Chúng vừa rút lui, Kinh liền cho mọi người
xuống bãi tranh để tìm Lượng. Tìm khắp nơi không thấy. Cũng
không thấy xác. Kinh quyết định cho đoàn ở lại thêm một ngày nữa
để tìm, và dò la tin tức thì biết Lượng đã bị địch bắt. Cơ sở trong
vùng cho biết quân địch chết và bị thương gần ba chục tên, Lượng
bị thương ngất đi, đã bị chúng bắt đem lên trực thăng chở về thị trấn
Khe Sanh.
Sau khi đoàn công tác về đến hậu phương một thời gian rất lâu,
Kinh vẫn chưa hề báo tin tức gì cho gia đình của Lượng. Nhưng
Kinh nghĩ chắc chắn Lượng không còn nữa! Khoảng ba năm sau,
Kinh từ trên cơ quan Tổng cục Chính trị về nhận chính ủy trung
đoàn 5. Kinh về hôm trước thì sáng hôm sau, Nhẫn, trung đoàn
trưởng, đề nghị ông xuống một đại đội để theo dõi tình hình kiểm tra
vũ khí, nhân tiện làm quen với anh em cán bộ và chiến sĩ dưới đơn
vị. “Có đại đội nào ở gần đây không?" - Kinh hỏi trung đoàn trưởng.
– Có "thằng" trinh sát!
Kinh xuống đại đội trinh sát một cách thực là tình cờ. Ông vừa
bước chân vào đến sân thì đã thấy Lượng đang ngồi chồm hỗm
trước một đống vũ khí: Súng trường, tiểu liên báng gập, tiểu liên cực
nhanh của Mỹ, lựu đạn, thuốc nổ, các thứ được bày biện thứ tự trên
những tấm ván nằm. Lượng mặc bộ quân phục còn nguyên nếp hồ.
Vẫn cái thân hình cao lớn và chắc nịch, vẫn con mắt có một vệt đỏ
bên khóe, vẫn những cử chỉ và tiếng nói cứng cỏi như ngày trước.
Lượng cầm cuốn sổ mở ra chỉ bằng nửa bàn tay, đang to tiếng với
một người cán bộ đứng bên cạnh: "Đồng chí thử soát lại xem, thế
mà cũng gọi là nắm thực lực vũ khí ư?”
"Hắn nom già đi nhiều quá. Như một người ngoài ba mươi", Kinh
nhận xét. Phải sau một lát, Kinh mới nhận ra được nhưng vẫn còn
nghi hoặc.
– Gì mà gắt om lên vậy hả ông? - Kinh bước tới bên cái bậc thềm
lát đá, mỉm cười hỏi.
Lượng ngẩng đầu lên ngắm con người vừa mới đến, nhìn chòng
chọc vào con mắt bên trái rồi ném cuốn sổ tay xuống thềm:
– Chao ôi, anh Kinh!
Khi Lượng kẹp đôi cánh tay
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
NXB Văn học 2004
Số trang: 514 trang
Thực hiện ebook: hoi_ls
Xong ngày: 03/06/2007.
"HỄ CÒN MỘT TÊN XÂM LƯỢC TRÊN ĐẤT NƯỚC TA THÌ TA
CÒN PHẢI TIẾP TỤC CHIẾN ĐẤU QUÉT SẠCH NÓ ĐI."
HỒ CHÍ MINH
PHẦN I:
HÀNH QUÂN
CHƯƠNG 1
Nơi đây khi đang mùa thu hãy còn là một cánh rừng già im lìm
như ngủ. Lúc bấy giờ những người chiến sĩ bộ binh và cả những
người chiến sĩ trinh sát dày dạn và ưa hoạt động nhất của cấp trung
đoàn hoặc sư đoàn hãy còn ở tuyến hậu phương. Suốt cả một dải
rừng núi âm u rậm rạp, thỉnh thoảng mới thấy sáng bừng lên vài
bông hoa chuối rừng đỏ nở trên những thân cây gầy khẳng. Tiếp
giáp với bìa rừng là bãi lau hoang vu rồi lại một cánh rừng khác, một
bãi lau khác ăn thẳng ra con đường số 9 rải sỏi dẫn tới một thị trấn
và ngoại vi khu đồn địch. Suốt cả mùa thu, ở đây còn hết sức yên
tĩnh. Trên mặt đất khô ráo đang đón đợi mùa mưa ngàn tới, chỉ có
bước chân những đàn voi đi thủng thỉnh xéo nát từng bãi tranh, và
báo trước cho chiến dịch sắp mở là bước chân không để lại chút
dấu tích của những người lính trinh sát Bộ Tư lệnh chiến dịch và
bọn thám báo Mỹ giậm đè lên nhau.
Khuê, chiến sĩ cần vụ của chính ủy trung đoàn 5 đã tùng sống
trên mảnh đất này suốt từ trận đánh mở màn chiến dịch. Nhưng anh
không khỏi bỡ ngỡ mỗi khi có dịp rời khỏi hầm sở chỉ huy, đi trở lại
khu rừng trú quân hồi trung đoàn mới từ giã trạm giao liên cuối cùng
tận ngoài bờ sông Xê Pôn. Thế là sau một loạt trận đánh, địch đã dự
đoán được đôi chút hướng xuất kích của những đơn vị chiến đấu
lớn của chúng ta. Chúng rải thuốc độc hóa học và dùng máy bay
B.52 rải bom theo lối "rải thảm". Chỉ có trong vòng nửa tháng, từ khi
tiếng súng đầu tiên của ta nổ vào giữa thị trấn, các cánh rừng chung
quanh đã quang đi từng vạt, từng vạt cỏ tranh bị thiêu cháy, ở các
chân lèn đá và dọc khe suối đã bị phát quang, máy bay trinh sát các
loại lượn đi lượn lại thăm dò suốt ngày đêm. Ban đêm tùng chùm
pháo sáng liên tiếp treo lơ lửng trong bầu sương thăm thẳm trắng
rừng trắng núi. Mặc cho máy bay địch trinh sát và bắn phá, dưới mặt
đất bộ đội vẫn chen chân nhau đi đông nghìn nghịt. Họ tranh thủ đi
nhanh hơn, nhận mặt nhau, chào hỏi nhau. Con đường cứ hình
thành dần những khu vực tọa độ của địch (Khu vực toạ độ: Khu vực
mà máy bay địch đã tính sẵn trên bản đồ từng quãng thời gian nhất
định bay qua ném bom một lần). Trên chặng đường đầy cây cối đổ
nghiêng, khói bom khét lẹt và đất đỏ lật lên lấp hết cây cối, tùng đơn
vị cứ đi qua, hết đơn vị này đến đơn vị khác, hết binh chủng này đến
binh chủng khác. Ban ngày có những khi máy bay trinh sát không
làm nhiệm vụ chỉ điểm cho máy bay phóng pháo, với đôi cánh bằng
gỗ dán, nó liệng từng vòng tròn rất hẹp trên từng chỏm cây một. Từ
bên thành cửa sổ trống hoác như con mắt mù thò ra một chiếc loa
phóng thanh và một giọng nói õng ẹo: Các anh bộ đôi Việt Công
dũng cảm! Đây là tiếng nói của người em gái mến thương của các
anh. Các anh hãy suy nghĩ mau mau trở về với người em gái mến
thương và Chính phủ quốc gia. Các anh sẽ được trọng dụng và
chiều chuộng. Em đang trông thấy các anh...
Dưới từng gốc cây, lính nhà ta vẫn thản nhiên ôm nhau ngủ,
thảng hoặc mới có anh chàng đang ngáy như sấm bỗng trở mình,
không thèm mở mắt cáu tiết văng tục: "Trông thấy cái . . . mẹ mày ! "
Không phải bây giờ mà từ đầu mùa xuân năm ngoái, Khuê đã
quá quen thuộc với khung cảnh này. Khuê đã quen với khu rừng
suốt ngày đêm dội vang những trận bom hất tung từng đám rễ cây
và đất đá, những cuộc chuyển quân trong tầm súng của địch, những
con đường tiềm nhập ở vị trí tập kết quân bị địch phát quang. Anh
đã quen với những trận bom B.52 như dựng lửa, với khung cảnh bề
bộn tạm bợ của chiến rường, với cả mùa mưa dai dẳng xô rừng
ngập suối của rùng miền Tây vốn từ bao đời còn âm u và hoang dại.
Chính khung cảnh của chiến trường như thế, trước đây vài tháng,
khi anh còn mài gót giày trên những chặng đường đi dài dằng dặc
của núi Trường Sơn, anh như đã trông thấy, hình như nó đang vẫy
gọi, đang giục giã anh và đồng đội của anh bằng tất cả sức mạnh
quyến rũ không thể nào lường được.
Ngày trung đoàn mới xuất quân từ hậu phương, Khuê là một tiểu
đội tưởng xuất sắc của đại đội trinh sát. Trên đường giao liên, ở một
chặng nào đó, đại đội trinh sát gặp u bộ (bí danh chỉ trung đoàn bộ)
giữa lòng dốc, đang ngồi nghỉ. Một đám người lố nhố bên rìa cỏ, anh
nào anh nấy mặt mũi trắng trẻo, mồ hôi ướt đầm đìa suốt dọc lưng
áo thấm sang cả ba lô cóc, túi tài liệu lớn, túi tài liệu bé xếp dọc lối
đi. Một anh phụ trách quân lực mặc quần đùi áo lót, khuôn mặt còn
trẻ mà đã hói lên tận đỉnh đầu, anh ta ngồi doạng chân trước chiếc
ba lô cóc to kềnh càng để quấy sữa bột, chợt trông thấy cái dáng
nhỏ bé và nhanh như sóc của Khuê vác súng tiểu liên đi vụt qua liền
cất tiếng gọi ầm ĩ cả rừng:
– Khuê ơi , về u bộ đi chứ!
Hai đồng chí cấp dưỡng vây quanh bởi đống nồi niêu xoong chảo
cũng góp vào một câu:
– Chúng tớ cũng thổi cơm rồi, vắt cơm có thịt rang hẳn hoi.
Chúng tớ phải mang đi theo cho cậu đây này!
– Các cậu vắt thì các cậu cứ việc ăn! Khuê vốn là con người vui
vẻ nhưng lúc đó anh lại đã gắt với hai đồng chí cấp dưỡng trung
đoàn bộ lành như đất.
Ở bãi khách kề trạm giao liên trung đoàn vừa qua, Khuê đã
khoác ba lô tới trung đoàn bộ một lần, sau khi anh nhận được một
tờ giấy đánh máy từ quân lực trung đoàn gửi xuống, điều động anh
rời đại đội trinh sát về giúp việc cho chính ủy Kinh. Hôm đó, Khuê
đến vào sau giờ ăn cơm, bãi khách trung đoàn bộ đóng im lặng như
không có một đoàn quân nào đang trú. Những chiếc võng bạt mắc
đan nhau từ gốc cây này sang gốc cây khác, trên mỗi đầu võng treo
lủng củng nào là xắc cốt, bi đông nước, dao rừng, súng đạn. Loáng
thoáng sau hàng cây một vài mái đầu đang cúi xuống hí hoáy viết,
và ngoài xa không biết từ một bãi khách nào khác vang tới tiếng dao
chặt trên thớt lách cách, tiếng động vang dội vào tận lèn đá. Khuê đi
quanh quẩn, anh tới bên một cái võng mắc thõng sát đất và vặn vẹo
như một cái vỏ đỗ, bên trong một người nằm đó và vẫn còn thức,
cặp mắt đang ngước lên nhìn cái kẽ xanh giữa vòm lá, một vết sẹo
dài như một nhát dao chém ngang đuôi lông mày.
– Cậu ơi thủ trưởng Kinh ở đâu nhỉ?
– Mình đây, mình là Kinh đây!
– Báo cáo thủ trưởng...
Chính ủy Kinh cất tập giấy đánh máy dày gần bằng quyển sách
vào trong một chiếc túi vải hoa, khoác túi lên vai rồi kéo Khuê đến
bên một cái túp sàn ken bằng thân những cây sậy giập vỡ, đó là
chiếc lán cỏ tranh duy nhất của cả khu vực bãi khách.
– Ô…ông lên có việc chi mà khoác ba lô nặng đến thế vậy?
Câu nói của Kinh đầy tiếng địa phương, rất nặng. Ông mặc bộ
quần áo vải nâu, vóc cao lớn, tóc húi ngắn và đã bạc ít nhiều, con
mắt bên trái bị thương hơi trắng đục luôn luôn như có một ánh giễu
cợt người đang đứng trước mặt mình. Khuê ngắm ông, chợt nhớ
ngày anh mới về đại đội trinh sát, còn đóng quân ở một làng mạn
trung du, Khuê dẫn một đàn bò gần chục con của đại đội đi chăn ở
mé đồi hoang. Thả cho bò đi ăn rong vừa xong là Khuê gục vào đọc
"Ruồi trâu” không còn biết ngẩng đầu lên nữa, cho đến lúc nghe
tiếng la khản giọng từ một xóm ở bên kia cánh đồng, anh mới ngừng
đọc. Lúc bấy giờ, Khuê mới biết bò của mình đang gặm lúa của dân,
từ dưới chân đồi một người nông dân mặc chiếc áo quân phục đã
bạc trắng đang lùa bò lên. Khuê vất sách vội vàng chạy đến xin lỗi.
Anh tưởng người đó là một người nông dân trong làng nên đề nghị
được đền số lúa những con bò đã ăn mất. Người đó cười với anh
bằng con mắt chế giễu, và liền bỏ đi sau khi nói: "Lần sau đồng chí
nhớ đừng để cho bò gặm lúa của dân, nhớ nhé!". Về sau Khuê mới
biết người nông dân đó chính là chính ủy của trung đoàn mình.
Khuê xốc chiếc ba lô và trang bị quân dụng nặng gần bốn chục
cân trên lưng. Anh giập gót đứng thẳng rồi móc túi lấy tờ giấy đánh
máy "Quyết định thuyên chuyển":
– Báo cáo thủ trưởng, tôi là Khuê ở đại đội trinh sát.
Kinh khoát tay rất rộng vỗ vai Khuê:
– A... ông đặt ba lô xuống, ngồi đây chúng mình nói chuyện. Biết
hút thuốc lá không nào?
– Có ạ !
– Ông hút thuốc lá, mình hút thuốc lào. Chúng ta nói chuyện làm
quen với nhau đi nào, lên đây ở với mình có thắc mắc gì không?
Khuê nhận ngay thấy nếu mình nói thật với con người này cũng
chẳng có tội vạ gì cả.
– Báo cáo thủ trưởng...
– Thế nào, có gì cứ nói...
– Tính tôi hay nghịch lắm, sợ nhận công tác phục vụ thủ trưởng
không chu đáo.
– Thì tôi cũng nghịch! - Kinh đáp một cách hăng hái.
– Và thưa thủ trưởng, thú thật tôi đi chiến đấu chỉ muốn được ra
ngoài chiến hào.
– Thì tôi cũng ra chiến hào!
Tuy đã nổi tiếng là "cây nói" ở đại đội trinh sát, Khuê cũng không
còn biết làm thế nào trước cái cách đối đáp của Kinh. Anh đành
đứng im lặng.
Lát sau, Kinh nói tiếp với Khuê như nói với một người ngang
hàng:
– Nếu ông ở gần, ông sẽ hiểu tôi hơn. Nhưng tôi cũng không nài
ép ông.
Chính ủy cho phép Khuê được trở về vừa hành quân vừa suy
nghĩ, hẹn sau hai chặng đường giao liên sẽ lên trả lời.
Khuê lại trở về hành quân cùng đại đội trinh sát. Nhưng ngay hai
hôm sau, anh đã khoác ba lô tới chính thức nhận nhiệm vụ ở trung
đoàn bộ. Trong những ngày trung đoàn sắp bước vào chiến đấu,
Khuê không muốn về cơ quan một chút nào nhưng anh biết mình
không thể từ chối nhiệm vụ mới. Vì anh biết đó là quyết định của cấp
trên.
***
Đã sang những ngày mưa dầm và rét. Mùa xuân sắp đến. Bầu
trời trên các chỏm rừng suốt ngày mù mịt mưa sương. Các con
đường mòn chạy xuyên qua Trường Sơn bao giờ cũng lõng bõng
một lớp bùn nhão đầy vết giày in chi chít ngang dọc. Các ngả đường
ngập những lính, đâu đâu trong rừng cũng sực lên hơi người, đâu
đâu cũng gặp những bếp than cháy dở, những cái túp cỏn con kề
bên suối bên trong ba hòn đá vực dưới suối lên đã cháy đen thui.
Bất cứ một người nào đi trên con đường này cũng phải tự hỏi: Ai là
người đầu tiên tới đây dựng lên cái bếp lửa sơ sài bên con đường
rừng? Bàn tay người lính nào đã dùng mìn bẫy đã cầm dao phát
cây? Và người cán bộ tham mưu nào đã từng mang một chiếc địa
bàn và một bản đồ, đứng chon von trên đỉnh núi để ngắm hướng
cho việc mở đường? Con đường nào sẽ là con đường thẳng nhất, ít
gặp núi cao vực sâu nhất? Con đường giao liên bắt đầu chỉ hẹp như
lối đi của người địa phương mở lên rẫy, đầy những mối vỡ tổ hăng
mùi nhựa cây và thỉnh thoảng còn thấy in những vết chân hổ giống
như những con dấu của rừng hoang, những con hổ đêm đêm vượt
qua đường để tìm mồi. Chính ủy Kinh là một trong những người đã
từng đặt bàn chân lên con đường này từ những ngày mới khai phá
đó. Ngày đó Kinh là một cán bộ tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính
trị. Ông có nhiệm vụ vào thấu một vùng chiến trường nằm khá sâu
để truyền đạt nhiệm vụ và chủ trương vũ trang của Đảng. Ngày đó ở
quê, vợ Kinh chưa đẻ đứa con thứ năm và ở đây, lối đi vừa mở
chưa có nhiều bàn chân giậm lên để in thành một con đường mòn
hẳn hoi như bây giờ. Kinh còn nhớ ngày đó đường rất vắng, thỉnh
thoảng mới gặp một đoàn đi. Các con suối còn mọc đầy rêu, chưa
có những cái bếp dựng lên rải rác. Và trong các khu rừng, những
căn nhà của trạm giao liên cũng chưa thật là chật chội phải chen
chúc, nhân viên của trạm chưa phải bận tíu tít lên vì công việc đón
tiếp. Ngày đó cũng chưa phát quang mặt đất từng khu vực rộng để
thiết lập các bãi khách đủ chỗ cho hàng tiểu đoàn mắc võng.
Đoàn đi của Kinh có chưa đầy một chục người, do Kinh làm tiểu
đội trưởng kiêm tổ trưởng Đảng. Lượng, đại đội trưởng đại đội trinh
sát của trung đoàn 5 bây giờ cũng có mặt trong số những người
cùng đi với Kinh năm đó. Năm đó Lượng mới hăm ba tuổi nhưng
vào bộ đội đã lâu. Lượng là một chiến sĩ hết sức tháo vát vì trong
cuộc đời Lượng phải lo tự lập thân từ hồi còn nhỏ. Chuyến đi cũng
vào một mùa đông. Đêm nào Lượng cũng nhóm lửa cho cả đoàn.
Một ngọn lửa cháy sáng, những chiếc võng mắc chung đầu với nhau
trên những thân cây xung quanh bếp. Từng người nằm nghiêng trên
võng, tay bóp chân để ngày mai đi chặng tiếp, mặt hướng về phía
ngọn lửa ở giữa mà nói chuyện hoặc nghe đài. Cứ tầm nửa đêm khi
mọi người đều ngủ cả, thỉnh thoảng Lượng lại trở dậy, thò chân vào
dép đi lẹp kẹp tới quẳng thêm củi vào cho ngọn lửa luôn luôn cháy
sáng để xua hổ. Lượng rất ham được nghe Kinh kể những trận đánh
hồi kháng chiến chống Pháp, những cuộc hành quân, những trận
Kinh một mình chiến đấu giữa vòng vây giặc. Lượng hiền và ít nói,
hơi khó tính, cách sống như một người đã đứng tuổi. Kinh coi
Lượng như một đứa con hay em. Ngược lại Lượng rất kính trọng và
yêu mến Kinh, mặc dầu cái tính chểnh mảng và hay quên của Kinh
dọc đường cũng khiến cho Lượng đôi lúc phải khó chịu.
Đoàn đi gần tới đích vào những ngày mưa dai dẳng đến nỗi ba
bốn ngày không sao đặt ba lô xuống chỗ nào mà thổi cơm được.
Đến chặng nghỉ, tùng người cứ khoác chiếc ba lô như một cái bướu
mọc sau lưng mà nhai gạo rang rồi lại tiếp tục đi. Gạo rang trộn
đường đựng trong túi ny lông của từng người cũng sắp cạn, đó là
khẩu phần "sẵn sàng chiến đấu” đáng lý không được đụng tới.
Nhưng tìm cái gì để ăn thay?
Lượng bàn:
– Anh Kinh ạ, ta sẽ khắc phục để thổi cơm.
Kinh vuốt nước mưa chảy ròng ròng trên mặt:
– Ông thổi được cơm giữa lúc này thì chả thua gì cái cô nào đó
vừa chăn cóc, vừa ăn mía, vừa ngồi trên thuyền thổi cơm thi ngày
xưa!
– Được! Tôi sẽ khắc phục thổi cơm. Anh cho anh em tìm chỗ mắc
võng ngủ đi, và đồng chí nào vác mấy bao gạo ướt ra đây cho tôi.
Lượng cởi ba lô. Anh rút dao đi men bờ suối, lát sau đã đội về
những bó lá và hai ba tấm phên kết bằng lá mây và lá dong rừng.
Một cái túp mái uốn cong chỉ cao đến bụng được dựng lên bên bờ
suối. Anh nhảy xuống giữa lòng suối khuân ba hòn đá bằng nhau rồi
dùng xẻng xén đi một lượt cỏ ướt, lại hớt đi một lớp đất dày bên
trên. Đất rừng giữa mùa mưa nhưng trong lòng vẫn khô ráo. Chỉ
trong một tiếng đồng hồ sau, một ngọn lửa đã bùng lên bên trong cái
túp bằng lá hãy còn xanh biếc, một cuộn khói ấm áp lách qua kẽ lá
bay thoát ra ngoài. Lượng đánh đường thoát nước chung quanh cái
túp rồi ngẩng lên, cất tiếng gọi vui vẻ:
– Anh Kinh và các anh ơi, nửa tiếng nữa sẽ có cơm nóng nhé, cứ
ngủ đi!
Trong những ngày mùa đông, cái khó của tất cả mọi người là làm
sao gây cho được ngọn lửa. Rừng mưa ướt đầm đìa hằng tháng
trời. Ai đã tùng sống qua một mùa mưa trên Trường Sơn hẳn biết.
Lá cây bao giờ cũng cụp xuống và ướt loáng. Thân cây đầy rêu. Đá
trơn tuột. Mái lán không bao giờ ngớt cái âm điệu lộp độp của mưa
rơi nghe váng óc như có người cầm gậy xăm trên đầu. Ngọn lửa
nhen mãi vẫn không bén, chỉ khói mù. Lại chổng mông thổi. Ba hòn
đá con con nước đã ngập đến lưng. Ngọn khói lan trên nóc lán rồi
bám chặt lấy các vòm cây ướt át, đọng lại ở đó mãi. Tiếng máy bay
ỳ ầm. Tiếng ve. Tiếng suối lũ. Con chim gì đó kêu tút tút không hề
biết mỏi. Giữa những ngày mưa dầm dề như thế, rừng Trường Sơn
ban đêm càng lạnh lẽo. Bao nhiêu người bốn phương quen biết
nhau và chưa hề quen biết nhau cùng đến ngồi bên nhau trong bóng
tối. Bên ngoài căn nhà trạm giao liên dành cho khách đi đường,
tiếng mưa đổ ào ào và tiếng ve mùa đông kêu như có ai đem cạo
tinh nứa ở đầu giường. Chiếc đài nói oang oang từ trong lòng một
người nào đó tố cáo Mỹ vừa đưa hàng vạn quân vào miền Nam.
Những người khách đi đường tìm củi để nhen lửa sưởi với nhau.
Nhưng lần mò hì hục hằng tiếng đồng hồ lửa vẫn không cháy. Mọi
người đã nản. Thì vào giữa lúc mọi người sắp đi nằm, ngọn lửa
nhen từ một bàn tay cần mẫn nào đó cháy lan dần, ban đầu còn le
lói, chẳng mấy chốc đã bùng dậy rắc ánh sáng lên khắp gian nhà.
Lửa cháy phần phật như một lá cờ vừa mở, bắt hơi nóng lên bằng
chừng ấy khuôn mặt và bàn tay. Giữa nhiều bàn tay mở xòe chìa về
phía ngọn lửa, bàn tay của người vừa nhen lửa cũng chìa ra lẫn
trong những bàn tay người khác. Câu chuyện vui bắt đầu nở. Tiếng
cười phá lên. Rồi những người đi đường tới muộn lọc cọc chống
gậy đến. Những người đang ngủ choàng thức giấc cũng tung chăn
tới ngồi lẫn giữa vòng người chung quanh bếp.
Liên khu X..., sau ngày đoàn Kinh đi công tác tới đó đã nhất loạt
trỗi lên một phong trào tự võ trang và đồng khởi hết sức mạnh mẽ.
Đế quốc Mỹ và tay sai tưởng có thể dập tắt được ngọn lửa cách
mạng nhưng từ trong bóng tối, ngọn lửa đã được Đảng nhen nhóm
dậy. Những người đảng viên và những quần chúng của Đảng ở các
cơ sở làng xã đã đứng dậy tổ chức cuộc chiến đấu của họ. Từ trong
vũng máu, ngọn lửa mở đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ đã được
nhen dậy bởi bàn tay những con người bình thường và trung kiên
nhất.
***
Chuyến đi công tác, nửa năm sau Kinh mới quay trở ra. Trên
chặng đường đi vào và lúc ra về, đoàn vẫn nguyên vẹn. Nhưng đến
một chặng cuối cùng bên con đường số 9, lúc đã sắp về đến căn cứ
hậu phương thì thình lình địch đổ quân xuống con đường đi. Một
buổi sáng, những chiếc trực thăng sơn màu kẽm, bụng phình to như
những con cá lóc chửa bay rùng rùng từ phía Đông Nam lên. Một
chiếc trực thăng chở một trung đội lính Mỹ, có ba cánh quạt Cánh
quạt trực thăng quay tít khiến lá tranh đổ ngả rạp. Lượng nằm ngửa,
gió quạt thốc vạt áo trùm kín cả đầu cả mặt. Anh nhổm dậy, gió xô
ngã. Lại ngồi dậy. Anh quỳ lom khom để ngó chúng. Bỗng Lượng
thấy ngọn lửa chớp nhoàng một cái trước mặt: Bọn chúng bắn dọn
bãi rồi!
– Anh Kinh ơi, cho tôi bắn trực thăng nhé! - Lượng hét to át cả
tiếng hai mươi ly nổ chung quanh.
Kinh phán đoán: Tụi thám báo mặt đất đã phát hiện được đoàn
của mình nhưng chúng vẫn còn gờm không dám nổ súng nên phải
gọi trực thăng đến chụp bắt.
Kinh không do dự, liền hạ lệnh cho bắn.
– Ngon xơi quá! - Lượng reo lên.
Bọn địch láo nháo xúm quanh một cái thành cửa sổ, đang thả
đạn cối xuống. Lượng kề súng vào vai xiết cò lia trọn một băng hạ
ngay chiếc trực thăng đầu tiên. Cuộc chiến đã bắt đầu. Bọn chúng
có đến một đại đội. Bên ta, chín người của một đoàn đi công tác
được chia thành ba tổ chiến đấu.
Kinh hạ lệnh cho đoàn phó nắm hai tổ. Đại bộ phận vừa mở
đường rút về phía dãy núi đá cách đấy độ hơn năm trăm thước.
Kinh trực tiếp nắm một tổ trong đó có Lượng, ở lại yểm hộ cho anh
em rút. Lượng cùng một chiến sĩ và đoàn trưởng Kinh, ba người
chiếm một cái gò đất giữa bãi tranh. Những cây mù u mọc chung
quanh gò bị đẵn từ khi nào không biết chỉ còn trơ những cái gốc.
Lượng cởi chiếc áo bị cháy trải xuống bên một gốc mù u. Anh trịnh
trọng bày lên một hàng lựu đạn Mỹ vừa cướp được, lẫn với những
quả lựu đạn chuôi dài của ta:
– Anh Kinh ơi, những quả lựu đạn Mỹ này sử dụng thế nào nhỉ?
– Cậu tháo khuy ra nhưng tay cứ phải nắm chặt cái mỏ vịt. Thế,
cứ vứt ra tự khắc nó nổ!
– Tiên sư cái thằng Mỹ này, quả lựu đạn giết người của nó cũng
"văn minh" và tiện lợi gớm!
Tàn tro trộn lẫn mồ hôi chảy ròng ròng trên trán, trong hai hố mắt,
trên ngực Lượng. Chung quanh cái gò đất, nắng và lửa cháy, cùng
với tàn tranh bay đen trời. Xác những tên Mỹ nằm co quắp khắp nơi.
Ngay trước mặt Kinh, bên kia gốc cây, ba bốn thằng chết nằm ngửa
tênh hênh. Nắng như giội xuống những khuôn mặt chúng. Bấy giờ,
cối và đại liên lại nổ ầm ầm vào chân gò. Kinh bế đồng chí chiến sĩ
đã bị thương nặng vào giấu sau một bụi cây, mắt vẫn nhìn về phía
trước:
– Này Lượng!
– Có tôi
– Nghe đây. Đợt này nhất định chúng sẽ kéo lên rất đông. Cậu có
nghe được tôi nói không?
– Bây giờ cậu để tất cả lựu đạn lại cho tôi... Anh em đằng sau đã
rút xong. Cậu hãy lui ra sau dùng tiểu liên yểm hộ cho tôi, và cõng
thương binh về...
Lượng hiểu ý định người chi huy.
– Tôi phải là người rút sau cùng - Lượng trả lời kiên quyết
– Anh là đoàn trưởng, anh phải rút về trước đi, anh Kinh!
Quân Mỹ tiếp tục xô vào. Ngay hai loạt tiểu liên đầu tiên, hai
người đã quật ngã hai tên hăng hái chạy trước. Tất cả chùn lại.
Nhưng một quả đạn cối bỗng nổ tung đất đá và tàn tro vọt lên. Kinh
bật lên một tiếng chửi, một nửa khuôn mặt Kinh tự nhiên tê dại đi.
Lượng bồi thêm một chùm đạn vào đám quân Mỹ đang nằm bẹp sau
các xác chết rồi chạy vội về phía Kinh. Anh thấy hố mắt trái của Kinh
như tụt sâu xuống. Một dòng máu từ bên trong cái hố mắt rỏ thành
giọt lăn qua vành má lấm đầy bụi tro xuống cằm. Khoảng túi áo
ngực và cả báng súng Kinh đang cầm tay cũng đọng những vết máu
lẫn với tàn tro.
Kinh ngồi bệt giữa đất cho Lượng quấn vòng băng cá nhân trùm
kín đầu. Kinh dặn Lượng cách vừa đánh vừa rút. Kinh đã bị choáng
nhưng vẫn còn khỏe lắm. Ông cúi xuống xốc đồng chí bị thương lên
lưng, bước từng bước chắc chắn và chậm chạp về phía sau, thỉnh
thoảng dừng lại kẹp súng vào nách bắn yểm hộ cho Lượng.
Cuộc chiến đấu tiếp theo dưới chân lèn đá, bọn chúng bỏ xác lại
từng đống. Năm giờ chiều, quân Mỹ thu dọn chiến rường một cách
máy móc và đúng thời giờ như những người thợ làm xong một buổi
trong xưởng máy. Ngồi trên vách núi đá, Kinh nhìn ra khoảng gò bãi
tranh, con mắt trái đau nhức nhối. Bọn địch bắt đầu kéo xác ra
đường cái ngồi hút thuốc lá, ăn kẹo, chờ trực thăng tới đón. Thật
tiếc ! Tất cả các khẩu súng của Kinh và của anh em trong đoàn đều
hết đạn, lựu đạn cũng hết nhẵn, mỗi người chỉ còn có một con dao
găm dùng để phát cây. Chúng vừa rút lui, Kinh liền cho mọi người
xuống bãi tranh để tìm Lượng. Tìm khắp nơi không thấy. Cũng
không thấy xác. Kinh quyết định cho đoàn ở lại thêm một ngày nữa
để tìm, và dò la tin tức thì biết Lượng đã bị địch bắt. Cơ sở trong
vùng cho biết quân địch chết và bị thương gần ba chục tên, Lượng
bị thương ngất đi, đã bị chúng bắt đem lên trực thăng chở về thị trấn
Khe Sanh.
Sau khi đoàn công tác về đến hậu phương một thời gian rất lâu,
Kinh vẫn chưa hề báo tin tức gì cho gia đình của Lượng. Nhưng
Kinh nghĩ chắc chắn Lượng không còn nữa! Khoảng ba năm sau,
Kinh từ trên cơ quan Tổng cục Chính trị về nhận chính ủy trung
đoàn 5. Kinh về hôm trước thì sáng hôm sau, Nhẫn, trung đoàn
trưởng, đề nghị ông xuống một đại đội để theo dõi tình hình kiểm tra
vũ khí, nhân tiện làm quen với anh em cán bộ và chiến sĩ dưới đơn
vị. “Có đại đội nào ở gần đây không?" - Kinh hỏi trung đoàn trưởng.
– Có "thằng" trinh sát!
Kinh xuống đại đội trinh sát một cách thực là tình cờ. Ông vừa
bước chân vào đến sân thì đã thấy Lượng đang ngồi chồm hỗm
trước một đống vũ khí: Súng trường, tiểu liên báng gập, tiểu liên cực
nhanh của Mỹ, lựu đạn, thuốc nổ, các thứ được bày biện thứ tự trên
những tấm ván nằm. Lượng mặc bộ quân phục còn nguyên nếp hồ.
Vẫn cái thân hình cao lớn và chắc nịch, vẫn con mắt có một vệt đỏ
bên khóe, vẫn những cử chỉ và tiếng nói cứng cỏi như ngày trước.
Lượng cầm cuốn sổ mở ra chỉ bằng nửa bàn tay, đang to tiếng với
một người cán bộ đứng bên cạnh: "Đồng chí thử soát lại xem, thế
mà cũng gọi là nắm thực lực vũ khí ư?”
"Hắn nom già đi nhiều quá. Như một người ngoài ba mươi", Kinh
nhận xét. Phải sau một lát, Kinh mới nhận ra được nhưng vẫn còn
nghi hoặc.
– Gì mà gắt om lên vậy hả ông? - Kinh bước tới bên cái bậc thềm
lát đá, mỉm cười hỏi.
Lượng ngẩng đầu lên ngắm con người vừa mới đến, nhìn chòng
chọc vào con mắt bên trái rồi ném cuốn sổ tay xuống thềm:
– Chao ôi, anh Kinh!
Khi Lượng kẹp đôi cánh tay
 





